(1929-2007)
VII
THƠ – VĂN TƯỞNG NIỆM
A
THƠ
Bảo Liên Đài
Mãn Tâm mãn ý tối thắng duyên
Giác Hoàng thùy phạm lợi nhơn thiên
Hòa âm diễn xướng truyền giáo nghĩa
Thượng Phẩm hoa khai đạt cửu liên
Bính Tuất Trọng Thu
Tỷ kheo Thích Tín Nghĩa
Bái bút
Đàm hoa lạc khứ
Thích Nguyên Tâm
Ôn đã đi rồi mây trắng bay
Ngàn năm sau nữa có ai hay
Giọt nước Tào khê còn vang vọng
Đàm hoa rơi rụng ngát hương đầy
Kính Dâng Ôn, Ngài Thi Sĩ
Tuyết Sơn
Chân Pháp Đăng
Bút hoa diễm tuyệt nghĩa huyền không
Diễn xướng tam thừa nhất ấn tông
Trí tuệ từ bi siêu mãn giác
Tâm tâm thanh tịnh tuyệt mông lung
TÂM KHÔNG HỒN LỤA CÚNG DƯỜNG
ÂN SƯ THÍCH MÃN GIÁC
Thơ đời trả lại mênh mông
Giữ chi ý động với lòng riêng tư
Kim cang Kinh sáng dạ từ
Trầm thơm nhả ngọc châu thư trong đầu
Bây giờ! Sư đến, về đâu
Vẫn thơ – sen nở nhiệm mầu dưới trăng
Mắt cười tươi nắng sông Hằng
Hương giang, núi Ngự, đồng bằng yêu thương
Tâm Không, Hồn Lụa cúng dường
Vòng quanh Vũ trụ lót đường Ân Sư
Phủ Huyền Tháp ấm hương từ
Mỗi tầng ánh sáng Chân Như lắng trần
Áo đời lam áng Phù Vân
Trái tim giải thoát phong trần ai đi
Pháp Vô Ngã hội Xuân thì
Không còn, không mất, có chi xa – gần .
LISA HUYỀN VÂN
HUỆ HƯƠNG
(Kính dâng Giác Linh Ân Sư Thích Mãn Giác)
Lisa Huyền Vân
Đẹp vườn trúc mướt chân không
Trăm hoa tươi thắm khói bồng áng thơ
Nguyện tình thương mãi vô bờ
Ngàn sau không bến – đơn sơ phút này
Túi hành dư lệ đâu đây
Tràng lam, áo khách gót giày hoang sơ
Đi trên sỏi đá đợi chờ
Tâm linh giao cảm đôi bờ Sắc – Không
Từng rung động thấm vào lòng
Ngọt ngào, thơm mát gió nồng Huệ hương
Vòng tay ôm phút vô thường
Gởi về muôn lối Huệ hương không tàn
Gối Thiền hẹn ước thu sang
Cùng yêu những chiếc lá vàng rụng rơi
Mắt xanh lộng bóng Cung Trời
Không xa Giới Luật, không rời Thích Ca
Màng chi Vương Đế tại gia
Cô đơn Đức Phật ngự tòa Như Lai
Hồn trang huệ – hướng dương cài
Tóc mây chiều mát đường bay sông Hằng.
TƯỞNG NIỆM ÔN
Con biết thế nào Ôn cũng ra đi
Tử sanh lão bệnh có nghĩa là gì
Thân tứ đại trả Người về cát bụi
Sắc không ngày ấy nhớ mà làm chi
Trời vào thu lá vàng rơi rồi đó
Lẽ vô thường dễ trải quá trăm năm
Về quê cũ đường đâu thấy xa xăm
Mười mươi khoảnh khoắc dấu tầm thiên thu
Sân chùa vắng đìu hiu nay thiếu bóng
Cội tùng già lặng ngắm chút trăng treo
Lắng đọng hiên ngoài tiếng mõ buồn theo
Chim ngừng hót lá rơi cành xao động
Ôn ra đi cho đời muôn hạt ngọc
Lời thơ vàng tạc dạ chốn nhân gian
Hoàng hôn về phủ xuống cả biển đông
Lệ tràn khóe mắt vạn lòng nhớ Ôn.
HỒ HƯƠNG LỘC
THẾ GIỚI HUYỀN KHÔNG
Kính viếng Giác Linh
Ḥa Thượng
Thích Măn Giác (1929-2006)
Từ thuở “MÁI CHÙA” đến tận đây
Quê hương như có mặt phương nầy
Tiếng thơ dâng ngập qua ḷng suối
Tiếng Thầy vang khắp nẽo trời mây
o0o
Thế giới HUYỀN KHÔNG đủ sắc màu
Đen Vàng Đỏ Trắng với Đông Tây
Trái tim MĂN GIÁC cùng chung bến
Màu vàng đưa lối hướng về Tây
o0o
Bước chân Pháp Vũ không màu sắc
Ơn thầy nhuần gội đến cỏ cây
Hoa mai c̣n ngát mùi sen hạ
Ưu Đàm muôn thuở vẫn thơm lây
o0o
Pháp Âm vang vọng trong ḷng đất
Bồ Tát năng hành lướt gió mây
Thuyền đă về Tây không gợn sóng
Lân lân hương MĂN GIÁC c̣n đây
o0o
Đọc trong buổi lễ tượng niệm cố
Ḥa Thượng Thích Măn Giác tổ chức tại chùa Pháp Bảo
Sydney 29-10-2006
Lâm Như Tạng
Ánh Sao Rơi
̣(kính tiễn Giác Linh Thi Sĩ Huyền Không)
Hàn Trúc
Một vì sao sáng đã lặng rơi
Để lại thi nhân những ngậm ngùi
Trả xong một kiếp duyên trần thế
Một nắm tro bay nhẹ thảnh thơi
Người bỏ chùa đi trong lặng lẽ
Chúng sinh hiu hắt tựa chiêm bao
Cõi không Người đã thành mây trắng
Để chốn thiền môn thiếu bóng nâu
Los Angeles nhuộm màu tro
Tiễn Giác Linh qua bến hư vô
Như Lai đang nhẹ vòng tay ấm
Đón ánh sao rơi đẹp hồn thơ
Huyền Không thi sĩ tiếng ngân vang
Thấp thoáng nơi nơi bóng áo vàng
“Mây trắng thong dong” bay về cõi
Niết bàn huyền diệu đón màu lam
Từ độ người đi, giới thi nhân
Một nỗi buồn riêng thấm thía lòng
Cánh thơ đã lạc trong màu nhớ
“Ta gọi Xuân về” Xuân chứa chan.
BÁT NGÁT HUYỀN
KHÔNG
Kính dâng Ḥa Thượng thượng Măn hạ Giác, tức thi sĩ
Huyền Không
Tối
trèo hái sao bất
chợt
nh́n ra vầng
trăng
cổ
độ
Nẻo Huyền Không vi vút thiền thi
Bên cầu nước chảy nụ cười b́nh an để lại
Trong cơn gió bụi áo vàng phơ phất dáng từ bi
Mái chùa che chở hồn ai một đời trầm ngâm ngọn bút
Táng lá bồ đề trùm hết khổ lụy trần gian
Mặt trời vừa nở sáng nay, ôm một v́ sao ngời sáng
Trong cơi thinh lặng
Bàng hoàng
Lệ sa thành thiên hoa khúc
Gửi
vầng
thơ
nhỏ
về
nơi
bát ngát huyền
không.
Đệ tử Tâm Quang (Vĩnh Hảo) kính bái
Tranh Thơ
Em hỏi tôi,
Thầy có biết
Thi sĩ Huyền Không?
Tôi gật đầu,
Em nói:
Người họa tâm tranh
Bằng nét thi ca
Bức ảnh quê hương
Dòng thơ diễm tuyệt
Màu sắc hoang sơ,
Sáng hồn dân tộc
Dưới mái chùa xưa
Có ấm chăn êm
Ấp ủ yêu thương
Chiếc cầu lịch sử
Nơi có bước chân
Hàng bao thế hệ
Nối gót cha ông
Dựng xây tình người
Đường nét tâm linh
Hòa trong hơi thở
Đệm khúc khải hoàn
Qua tiếng chuông linh
Ờ, em nói đúng
Nhưng, em có biết,
Tranh thơ, mái chùa,
Hồn dân tộc
Đã liền sâu
Trong huyết quản
Việt Nam
Từ Đinh, Lê, Lý, Trần
Và sẽ là mãi mãi
Thầy Huyền Không
Người tiếp nối
Thêm sắc màu.
Tô đậm nét Thiền môn
Thầy góp bàn tay
Gầy dựng tình người
Chúng ta
Thân lữ khách
Canh cánh niềm thương
Người truyền hơi ấm
Bằng pháp nhiệm màu
Thấy lại gần nhau.
Tuệ Minh
Xin tiễn
Thầy
đi
!
Kính tiễn
Giác Linh Ḥa Thượng
Măn Giác
Ngày 18-10-2006 * Mặc Giang - Úc Châu
Xin tiễn
Thầy
đi,
thượng
phẩm
hoa khai
Bảo
sở
hoàn nguyên, tỏa
chiếu
liên đài
Thương
chốn
diêm phù, trầm
luân thống
khổ
Cỡi
xe Tam Thừa,
pháp giới
khứ
lai
Xin tiễn
Thầy
đi,
trực
văng Tây Phương
Quê cũ
ngàn xưa,
hằng
viễn
chơn
thường
Ngó xuống
trần
gian, chúng sanh ṃn mỏi
Xuất
Thánh lâm phàm, ban đức
t́nh thương
Xin tiễn
Thầy
đi,
ngân hà xao xuyến
Chuông mơ trầm
hùng, vang vọng
cầu
kinh
Tăng
- tín hai hàng, đôi
bờ
mắt
xót
Thương
tiếc
người
đi,
về
cơi vô thinh
Xin tiễn
Thầy
đi,
ngàn sao lấp
lánh
Nguyện
Đấng
Cha Lành, phóng độ
Từ
Quang
Nghi ngút trầm
hương,
mờ
mờ
quyện
khói
Ngọn
gió heo may, lay động
mênh mang
Thân tứ
đại
vô thường
Cuộc
đời
là trọ
quán
Nhưng
ngơ rẽ
hai đường
Ai không nặng
vương
vương
Cùng
đang
bước
đăng
tŕnh
Trên sáu đường
sinh tử
Nay Thầy
đi
một
ḿnh
Xin cung tiễn
Giác Linh
Nay Thầy
đi
một
ḿnh
Xin cung tiễn
Giác Linh.
Kính tiển giác linh thầy
H́nh hài
về
cỏi
thiên thu
Trần
gian c̣n lại
ngh́n thu bóng ngài
Mai kia hạt
bụi
gót hài
Thong dong trên đỉnh
liên đài
tây phương
Tràng châu điểm
hạt
tinh sương
Lung linh trân bảo
khói hương
quyện
ngàn
Khoa chuông khẻ
gọi
trần
gian
Muôn phương
nhịp
điệu
ḥa vang một
long
Chắp
thay ngưởng
vọng
bên ḍng
Sông từ
nước
chảy
về
nguồn
cội
xưa
Nguyên Phú
Phiên Nguyễn
TP Vancouver, BC Canada chùa Hoa Nghiêm
Tiễn Ôn
Sáng nay nhận được tin buồn
Ôn rời cõi tạm lên đường về Tây
Biết rồi sẽ có hôm nay
Nhưng sao ngăn được lệ dày hoen mi
Ngậm ngùi tiễn biệt Ôn đi
Con nguyền mài mãi khấc ghi lời vàng
Ôn như mây trắng dịu dàng
Nay đây mai đó dịu dàng bảo khuyên
Ôn đi qua khắp mọi miền
Gieo duyên Phật pháp kết duyên Bồ đề
Thương đời chìm đắm biển mê
Chúng sanh hóa độ Ôn về Tulsa
Nay Ôn rời khỏi Ta Bà
Tiễn Ôn con niệm Di Đà Hồng Danh
Nguyện cầu Chư Phật chứng minh
Con nguyền sám hối làm lành đền ơn
Nguyện cầu Tam Bảo trường tồn
Và xin thế giới mọi miền an vui.
Kính Bái
Diệu Phương
Ôn đă đi rồi
Thức dậy đi thôi
Hỡi các loài chim
Ôn đă đi rồi
Sao các em quên hót?
Hăy hót lên
Mà đừng trổi giọng buồn
Chỉ tha thiết,
yêu thương
Và các loài hoa ơi!
hăy nở
Cho hương đàm
theo “mây trắng thong dong”
Hồi chuông chùa thức tỉnh
Vọng men theo bóng tùng
Đă bao lần che chở
Chim xây tổ, hoa hương
Ôn đi rồi các em ạ
Ôn về với yêu thương
Con đường rợp ánh sáng
Con đường ngát rừng hương
Tuệ Minh
Thành kính dâng Ôn
The Master is gone
Wake up!
O singing birds
Our Master is gone
Where is your usual sweet melody?
Please start up again your enchanted voice
Not a somber tune,
Just beautiful
and loving
O flowers!
Please bloom
May the sandlewood incense
blend with “the floating white clouds”
The temple awakening bell,
resonates in the shadow of the pine trees
which has sheltered the birds building their nests,
The flowers releasing their fragrance
Our Master is gone, O gentle ones!
He walks on the path of Loving Kindness,
The path of Perfect Wisdom,
The path of graceful adoration.
Homage to a Great Teacher
Tuệ Minh
Huyền Không Măn Giác Đại Sư
Huyền vân bay qua bầu trời thanh thoát
Không gian u sầu, một v́ sao vừa tắt
Măn việc đời gửi lại nhân hạnh phúc
Gíác ngộ viên thành, c̣n ǵ luyến lưu
Đại sự hoàn tất, nhẹ bước ta bà
Sư trưởng ân cao, môn sinh kính lạy.
Đệ tử Nguyên Thuận@ Diêu Âm kính đảnh lễ Giác Linh Ôn
Sài G̣n Nhỏ thu sầu tiễn biệt
Đất Sài Thành da diết niềm đau
Thơ văn bắc đẩu như một v́ sao
Vừa liệm tắt, nhưng công lao không tắt.
Nhớ linh xưa:
Đất cố đô, mượn duyên thác chất
Làng Phương Lang xuất hiện bậc nam nhi
Tuổi lên mười, khi xong hết lớp nh́
Theo anh họ1 quyết tầm sư học đạo.
Năm mười sáu tṛn duyên thế độ
Được ngài Quảng Huệ xuống tóc xuất gia
Chỉ vài năm thơ nhả ngọc đơm hoa
Trang thơ Việt đượm trang thơ Phật.
Hai mươi tuổi tṛn, giới châu Cụ Túc
Chí Đại thừa cao ngất trời Nam
Giảng kinh pháp khắp các thị thành
Làm Hội Trưởng Cao Nguyên Phật Giáo.2
Xứ Anh Đào, phương trời cao cất bước
Ấp ủ hương thiền sáng rực ngày về
Văn Khoa, Vạn Hạnh vang bóng một thời
Ḍng triết Phật đề huề triết Ấn.
Kể từ đó dấn thân nhập cuộc
Tổng Vụ Thanh Niên tha thiết dựng xây
Tổng Vụ Văn Hoá văn bút ngất ngây
Mái chùa Việt chở che hồn Việt.
“Không Bến Hạn” lung linh trác tuyệt
“Hương Trần Gian” toả ngát mười phương
Mấy dặm tŕnh “Mây Trắng Thong Dong”
Tâm dung nhiếp, “Không Gian Thành Chiếc Áo”
“Phật Giáo Và Văn Hoá Việt Nam”
“Tư Tưởng A Tỳ Đàm”;
“Bích Nham”
“Pháp Bảo Đàn”
“Nhân Bản Phật Giáo”
“Khảo Sát Môn Duy Thức Học”.
“Phật Học, Thiền Học, Thi Ca”
“Đạo Phật của Quần Chúng”.
“T́m Hiểu Sáu Phái Triết Học Ấn Độ”
“Đại Cương Đạo Đức Học Phật Giáo”.
“Đạo Đức Học Đông Phương”
“Băo Qua Cổng Chùa”
“Đức Phật Vẫn Ngồi Yên” trong được mất
“Lịch Sử Triết Học Ấn Độ”
“Phật Pháp Qua Nhận Thức Khoa Học”
“Vạn Hạnh, Kẻ Đi Qua Cầu Lịch Sử”;
“Giá Trị Luân Thường Đạo Phật”.
“Kẻ Lữ Hành Cô Độc”.
1 Tức Hoà thượng Thích Trí Thủ, anh em cô cậu ruột.
2 Hội Trưởng Hội Phật Giáo Dalat, Đại Diện Hội Phật Giáo Cao Nguyên Trung Phần.
An nhi??n
Ng·̉ᯬi giᯬ thuá?n láÖ v?÷ th·̉ᯬng
Ph? sinh mᯙt kiáĐp nhá bu?÷ng an nh? n
Lᯑi vᯠv?÷ tá?n th??nh thang
TháĐ gian huyᯅn á¥o mᯙng t? n x?¡ chi
Ng·̉ᯬi th·̉·¡ng ‘ᯬi ‘áĐn mᯙt khi
C?¢u th·¡, trang sá¯? c??n ghi dáÀu Ng·̉ᯬi
Tr?¥i th?¢n h? nh h?¦a mu?÷n n·¡i
Xu?÷i d??ng tháĐ sᯰ ná¯À c·̉ᯬi an nhi??n
Chuyᯇn ‘ᯬi ‘?¢u bá?n kh?¡ch thiá¯n
Thá¯m kh?÷ng ‘?¢u dáÀu ná¥o phiá¯n nh?¢n gian.
Ng·̉ᯬi giᯬ thong thᥠvᯠt?¢y
M?¡i ch?a c??n ‘?¦ th?¡ng ng? y r??u phong
Hᯓn thi??ng non n·̉ᯛc tiáĐc tr?÷ng
Thi nh?¢n, Thiá¯n kh?¡ch táÀm l??ng bao dung
Chiá¯u vᯠtᯉnh lá•ng tiáĐng chu?÷ng
Tiᯃn ch?¢n �á¡i sᯠ,qu?? h·̉·¡ng nhᯛ Ng·̉ᯬi.
Quá¥ng H·̉·¡ng Gi? Lam 2006
K??nh d?¢ng gi?¡c linh H??a Th·̉ᯥng.
VËnh Thi, Th??ch NGuy??n Minh
Nhạn về
Nhạn về hoa rải, mây chờ,
Hoa đông hoa tuyết vui chờ đón xem.
Cửa Không toả sáng muôn đèn,
Con thuyền Bát nhă ai lên mấy thềm.
Thinh không nhẹ bước êm đềm,
Ung dung dang hiện an nhiên thoát trần.
Báo thân mỗi kiếp mỗi phần,
Hoá thân muôn kiếp muôn phần hoá duyên,
Nhục thân nơi cảnh hiện tiền,
Ứng thân về cơi vô biên vô cùng.
Ra đi nào sá ngại ngùng
Túi phiền bỏ lại, ung dung ta về.
Kính hầu Giác Linh Ôn
Thích Phước Nghiêm
Thầy đi dáng vẩn phong trần
Hoa bên đường vẩn những lần trổ bông
Kết từ Thành Nội khuê phong
Hương giang huyền hoặc chảy ḍng sông trăng
Cà sa quyện với nắng vàng
Đạo đời hai ngả nhịp nhàng ứng thân
Chuông thiêng từ độ vọng ngân
Phù Tang non nước vương mang tự t́nh
Ban sơ v́ niệm tử sinh
Đốt đèn rọi bóng vô minh tỏ tường
Thuyền xuôi theo nước về nguồn
Huyễn thân xả báo mười phường thêm lành
Kính lạy giác linh thầy
Nguyên Phú/Phiên Nguyễn cựu học viên Vạn Hạnh năm
1976/1977 716 Vơ Duy Nguy, Phú Nhuận. Nay là đường Nguyễn Kiệm
|
File name: HT_ManGiac.doc | File type: application/msword |
Giác Linh
Cố Hoà Thượng thượng Măn hạ Giác
Măn Nguyện Độ Chúng Sanh,
Bảy Mươi Tám Năm Tṛn,
Trụ Thế Lưu Danh,
Muôn Đời Cho Dân Việt.
Giác Ngộ Lư Vô Thường,
Năm Mươi Tám Mùa Hạ,
Để Lại Hương Thơm,
Ngàn Năm Trong Đạo Pháp.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Kính Bạch Chư Tôn Đức trong Ban Tổ Chức Tang Lễ,
cùng quư Môn Đồ Pháp quyến.
Kính bạch quư Ngài!
Chúng con vô cùng kính tiếc, khi hay tin Cố Hoà Thượng thượng Măn hạ Giác vừa thân trần thị tịch.
Từ nay… đă vắng bóng Trăng Lăng Già, thiếu Môn Thạch Tựu Phật Giáo Thế Giới, Thiếu người lèo lái… đây là nổi mất mát lớn lao của Tăng Ni, hết thảy Phật Tử ở Âu Mỹ và Việt Nam.
Cố Hoà Thượng cả đời hy sinh cho Đạo Pháp, cho dân tộc, h́nh ảnh Ngài trong tâm thức của chúng con như: Trăng Trí Tuệ Huy Hoàng
Sáng soi cùng vũ trụ.
Hoa Từ Bi tươi tốt,
Ngào ngạt khắp muôn phương.
giờ đây: Ta Bà một thuở ra đi
Tăng B́nh nửa gánh, Tây quy nhẹ nhàng
Rừng Thiền vắng bóng Hạc vàng
Biển trần vượt khỏi, muôn ngàn phong ba.
Người đi dấu vết chưa nhoà
Bát y truyền lại, sương phai lạnh lùng.
Tam sanh hẹn kiếp tao phùng,
Tông phong, Tổ ấn, gởi cùng non sông…
Chúng con chỉ biết quỳ dưới chân Phật đài, hướng về kim quang của Cố Hoà Thượng, cầu nguyện Giác Linh Ngài: Xả Báo Thân, Nhập Pháp Giới Thân, Y Bản Nguyện, Tuỳ Duyên Hoá Độ.
Nam Mô Chứng Minh Sư Bồ Tát Ma Ha Tát!
Tỳ Kheo Ni Thích Nữ Như Tuấn
Tỳ Kheo Ni Thích Nữ Như Quang
cùng Chư Phật Tử Chùa Phổ Hiền
Hội Phật Giáo Việt Nam tại Strasbourg Pháp Quốc
Đồng Kính Bái
Thế Thủ
Người là bậc tiền bối
Con là kẻ hậu lai
Cách nhau mấy chục thu dài
Cả đời con chưa diện kiến
Nhưng từ lâu con đă thấy Người hiển hiện
Trong “ Nhớ Chùa” một thi điển tuyệt luân
Nghĩ một ngày kia “ Không Bến Hạn”
“ Không Gian Thành Chiếc Áo”
“ Kẻ Lữu Hành Cô Độc” và hậu thế gặp nhau
Nguyện ước này đă ôm ấp từ lâu
Nhưng than ôi ! từ nay tan biến
Dấu chân Người xa hẳn chốn bụi hồng
C̣n lưu lại mấy vần thơ tuyệt tác
Thôi th́ nơi xứ xa hậu duệ một ḷng chua sót
“ Hương Trần Gian” tiễn gót Người về quê.
Thành kính đảnh lễ bái biệt.
Hậu lai Thích Viên Tịnh – 2006
Kính dâng Giác Linh Ḥa Thượng: Thượng Măn Hạ Giác
là đấng cha lành của tất cả chúng con, con xin đại diện Ni Chúng kính cung tiển Thầy qua bài thơ:
THẦY ĐI CHÍ NGUYỆN VẪN C̉N
Thích Như Nguyện
Một sáng thông reo, khúc nhạc trời
Thu về, phong diệp sắc vàng tươi
Hôm nay lá rụng ngoài song cửa
Là lúc Thầy đi tận cuối trời
H́nh bóng Quê hương mờ mịt khuất
Ḍng đời nghiệt ngă lặng lờ trôi
Thầy đi để lại lời “hưng quốc”
Đạo pháp, quê nhà bao vấn vương.
* * *
Đồng Kính Bái
Thích Như Nguyện, Thích Nữ Như Liên, Thích Nữ Tâm Ḥa, Thích Nữ Liên Chi, Thích Nữ Minh Phước, Thích Nữ Như Định, Thích Nữ Thanh Ngọc, Thích Nữ Chúc Vân, Thích Nữ Đức Thường, Thích Nữ Nhật Hiếu, Thích Nữ Nhật Nhan v.v. . .
Los Angeles ngày 19-10-2006
Mùa Thu năm Bính Tuất
NHO NGUOI
MAY NAO BAY VA MAY NAO TRO LAI
TA MUON GOI HON THEO VOI NGAN MAY
MAY BAY NGAN KIEP VAN BAY
TA CON NHO MAI HOM NAY MAT NGUOI
CON DAU TIENG CUA AI CUOI
VANG TRONG DEM VANG NHUNG LOI CAU KINH
NHUNG LOI KHAN NGUYEN CHAN TINH
NGUYEN CHO THE GIOI BINH MINH HUY HOANG
LAN TRONG TIENG MO NHIP NHANG
HOI CHUONG CUU DO NGAN VANG DEM DAI
TIEN AI DEN CHON LIEN DAI
HON TA NGAY NGAT CON HOAI NHO THUONG
DEM NGHE TIENG VAC KEU SUONG
TA CHOANG DAY DOT NEN HUONG NHO NGUOI
GIO REO NHU TIENG AI CUOI
TRANG SOI LA BONG DANG NGUOI VE THAM
NHO NGUOI NHO SUOT NGAN NAM
DEM DEM DOT NEN HUONG TRAM NHO AI
TULSA 12 ,0806 Dieu Phuong
DUC PHAT
TREN BAU TROI RAT CAO
DUC PHAT VA ANH SAO
QUANH NGAI SAO CHIEU SANG
PHAT NIM CUOI DIU DANG
PHAT CHANG NOI NANG CHI
TRONG THE GIOI VO VI
PHAT CHANG NOI DIEU GI
CHI NIM CUOI TU BI
DIEU PHUONG
UOC NGUYEN
Kinh dang len giac linh co dai lao Hoa Thuong Man Giac
RUNG RUNG CON KHOC TRONG LONG
TRUOC LINH DAI MOI HOA HONG TOA HUONG
CON QUY TRUOC GIAC LINH DUONG
NGUYEN CAU ON DEN TAY PHUONG AN NHAN
DON CHAN ON CO SEN VANG
TIEN CHAN ON CO NGUT NGAN LOI KINH
NGUYEN CAU CHU PHAT HIEN LINH
DO CHO THE GIOI HOA BINH NOI NOI
CHUNG SANH TAT CA MUON LOAI
THOAT KHOI LUAN HOI TRONG COI TU SANH
DE ON TRONG DAI NGUYEN LANH
RA VAO SANH TU NHU CANH HOA MAI
DAT DIU CON DEN LIEN DAI
VUOT QUA BE KHO DEM DAI TOI TAM
ON NHU TRANG SANG DEM RAM
DAT DIU DE TU ME LAM VUOT QUA
XIN ON HOI NHAP TA BA
GIUA DOI U TOI ON LA ANH TRANG
KY NIEM CHUNG THAT CUA ON
DIEU PHUONG 12.06
Huyền Không Măn Giác Đại Sư
Huyền vân bay qua bầu trời thanh thoát
Không gian u sầu, một v́ sao vừa tắt
Măn việc đời gửi lại nhân hạnh phúc
Gíác ngộ viên thành, c̣n ǵ luyến lưu
Đại sự hoàn tất, nhẹ bước ta bà
Sư trưởng ân cao, môn sinh kính lạy.
Đệ tử Nguyên Thuận @ Diệu Âm kính đảnh lễ Giác Linh Ôn
CÁNH ĐÀO BAY XA
*Kính Dâng Giác Linh Cố Ḥa Thượng Minh Sư
Trọng
thu một
cánh đào
Vĩnh
biệt
chào trần
gian
Ngoài bảy
mươi
trụ
thế
Giữa
cơi trần
mênh mang.
“ Không
gian thành chiếc
áo
Mây trắng
giờ
thong dong”
Về
bên kia nguồn
cội
Vẫn
nụ
cười
trên môi.
L.A. vẫy
tay chào
Phương
Lang, người
đứng
ngóng
Hàm Long, chân một
thuở
Thiên Minh, ai ngóng chờ.
Đà
Lạt,
hằng
trông ngóng
Vạn
Hạnh,
dấu
mờ
xa
Mỹ
Quốc,
giờ
vắng
bóng
Dấu
chân người
đi
qua.
Đạo
viên thành qủa
giác
Tịch
tịnh
chốn
an nhiên
Tâm thành con nguyện
khấn
Thầy
về
cơi Chân Như.
Tâm Thể
Gởi ḿnh cơi không
Kính viếng giác linh Đại Lăo HT thượng Măn hạ Giác
Một
sớm
Hoa Kỳ
Nghe lạnh
hư
không
Năm
châu trời
thương
tiếc
Bốn
phương
người
đau
lòng
Từ
độ
ḍng Hăn về
Đông
Trời
mây xứ
Huế
Huyền
Không đón
chào
Thiên Minh phật
tuệ
dồi
trau
Học
đường
Báo Quốc
tinh sưu
một
thời
Sông Hương
núi Ngự
là nơi
Thiền
sư
phổ
tẩm
trác vời
thi ca
Một
chiều
quảy
gót đi
xa
Lên đường
chấn
tích, Ta Bà du phương
Xứ
người
quảng
học
văn
chương
Tinh thông thánh điển,
quê hương
trở
về
Tuổi
đời
đâu
hẹn
sơn
khê
Chiếc
thân hoằng
hoá nào hề
gian nguy
Không sợ
thị,
chẳng
ngại
phi
Uy vũ
chẳng
khuất,
danh th́ có – không
Một
đêm
“chiếc
áo hư
không”
Quyết
tâm v́ đạo,
theo ḍng ra khơi
Mênh mông xứ
lạ
quê người
“Bố
ma, phá ác” v́ đời
quản
chi
Đạo
vàng Ôn quyết
phát huy
Đời
“Không bến
hạn”
dẫu
khi ḷng người
…
Từ
bi Ôn nở
nụ
cười
Ba mươi
năm
chẳn
bến
người
hoá duyên
Nào quên hạnh
nguyện
Phổ
Hiền
Nào quên chí cả
con thuyền
độ
sinh
Thong dong cất
bước
đăng
tŕnh
Ôn về
xứ
Phật,
gởi
ḿnh cơi không.
Delhi-Ấn Độ, 17.10. 2006
Thành kính khể
thủ Giác Linh Ôn
Thích Pháp Tịnh
Chỉ Là Thế Thôi
Mây trôi bèo dạt
chỉ là thế thôi
Nắng ấm qua rồi
phận người lẻ loi
Mây trôi mây bay
bay đi muôn hướng
Mây trôi mây bay
bay đến bao giờ.
Mây trôi bèo dạt
phận này mỏng manh
Lá úa bây giờ
một thời đă xanh
Mây trôi mây bay
ngàn trùng xa cách
Lá úa lá vàng
phận người mong manh.
10-13-2006
Kính bái,
Đệ tử Tịnh Nghiêm-Nghiêm Xuân Cường
Mây Trắng Thong Dong
Kính dâng Giác Linh Đại Lăo Ḥa Thượng Thích Măn Giác
Buông bỏ hết buồn đau hờn giận
Không âu lo vướng bận viễn vông
Thở vào mây trắng thong dong
Thở ra môi nở nụ hồng đẹp xinh
Như gịng nước ung dung về biển
Như cánh chim biền biệt trời mây
Ung dung: đi đến, đêm ngày
Có không, c̣n mất, ḷng ngày chẳng suy
Thân vốn tựa li ti bụi nhỏ
Bởi vô minh sầu khổ khôn nguôi
Khi mây phi ền năo qua rồi
Mặt trời trí huệ rạng ngời chân tâm.
Kính bái,
Đệ tử Tịnh Nghiêm-Nghiêm Xuân Cường
Vĩnh biệt Thầy Mãn Giác
Thầy đã đi rồi
Đi thật rồi
Thầy về nước Phật
Chúc Thầy vui
Mái chùa còn đó
Che dân tộc
Mà tiếc từ nay
Thiếu một người
Trần Vấn Lệ
04.11.2006
Lời Trăng Sao
Đêm qua
Trời trở lạnh
Trên từng không
Vằng vặc trăng sao
Im lặng
Đêm sâu
Cánh hạc vút về Tây
Mái hiên chùa
Hiu hắt gió
Xao nhẹ chiếc phong linh
Vang lời kinh
Cầu nguyện
Giác Linh Thầy
Trong cõi Phật
Vô Lượng Quang
Vô Lượng Thọ
Thượng Phẩm đóa sen vàng
Vẫn còn
Trần gian cõi tạm
Gió mang
Lời thì thầm khóc than
Nhớ thương Người
Bên cội tùng
Trong sân chùa
Bóng Thầy
Nụ cười
Thiên thu
Sát na mầu nhiệm
NHƯ MINH
Los Angeles Tuần Bách Nhật Ôn – Thiền Sư MÃN GIÁC
B
VAN
ĐÔI NÉT VỀ CUỘC ĐỜI
H̉A THƯỢNG THÍCH MĂN GIÁC
Hòa Thượng vốn ḍng họ Vơ, sinh năm Kỷ Tỵ, tháng 9 năm 1929 Tây Lịch tại Cố Đô Huế, trong một gia đ́nh mà Nội Ngoại đều tin Phật và nhiều người trong thân quyến đă có duyên xuất gia và thân danh nỗi tiếng trên bước đường tác thành Phật Sự. Cố đô Huế chỉ là sanh quán, c̣n nguyên quán thuộc làng Phương Lang, quận Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.
Ḥa Thượng là con trai út trong một gia đ́nh có 5 anh chị em mà thân phụ chẳng may qua đời sớm, chỉ c̣n mẫu thân một ḿnh tảo tần chăm chút săn sóc đàn con. Sau khi được học xong Chương Tŕnh Tiểu Học Yếâu Lược, tuổi đời mới lên mười, đích thân bà mẹ cầm tay con dắt tới gởi gắm với Ḥa Thượng Thích Trí Thủ là người anh cô cậu ruột đă xuất gia từ trước và đang là bậc danh tăng của Phật Giáo Huế để nhờ dẫn dắt. V́ mối thân t́nh gần gũi trong quyến thuộc như thế nên Ḥa Thượng Thích Trí Thủ đă hướng dẫn người em đến đảnh lễ Ḥa Thượng Thích Quảng Huệ, trú tŕ Chùa Thiên Minh xin nhập đạo tu hành.
Năm 16 tuổi, nhằm quư niên Giáp thân, 1944, Ḥa Thượng được bổn sư cho tiếp nhận giới Sa Di được tổ chức tại chùa với Pháp danh Nguyên Cao, tự Thích Măn Giác, đạo hiệu Huyền Không; và không lâu sau đó, cùng trong năm nầy, được thọ giới chính thức tại Giới Đàn Thuyền Tôn do Đại Lăo HT. Thích Giác Nhiên làm Đường Đầu, HT. Thích Tịnh Khiết chùa Tường Vân làm Yến Ma và HT. Thích Đắc Quang Chùa Quốc Ân làm Giáo Thọ. Trong giới đàn nầy, Thiền Sư Thích Mật Thể đỗ Thủ Sa Di, Thích Trí Quả làm Vĩ Sa Di và Sư Bà Thích Nữ Diệu Không cũng được nhận giới lớn Tỳ Kheo Ni.
Năm Kỷ Sửu – 1949 – cùng với các học tăng đang theo học chương tŕnh Đại Học Phật Giáo tại Phật Học đường Báo Quốc đuợc tiếp nhận giới bổn Tỷ Kheo trong một Đại Giới Đàn đuợc tổ chức rất trang nghiêm do HT. Thích Tịnh Khiết làm Đường Đầu, HT. Thích Giác Nhiên làm Yết Ma và HT. Thích Vĩnh Thừa (Châu Lâm) làm Giáo Thọ. Đại Giới Đàn này đă quy tụ được một học chúng ưu tú của Phật Giáo đương thời mà về sau, đă trở thành các nhân sự lănh đạo Giáo Hội và Văn Hóa Giáo Dục tăm tiếng. HT. Thích Thiện Siêu là Thủ Sa Di, HT. Thích Thiện Minh là Vĩ Sa Di... và những gương mặt khác như HT. Thiên Ân, Đức Tâm, Măn Giác... đă nỗ lực phụng sự Phật Giáo Việt Nam sau nầy, đặc biệt là giới thiệu một nền đạo dân tộc sống động giữa t́nh cảnh điêu linh của đất nước và con người.
Năm 1950, sau Lễ Chung Thất của Ngài Bổn Sư vừa viên tịch, Đại Lăo HT. Thích Giác Nguyên, Trưởng Pháp Phái Từ Quang, đă chiêu tậâp Chư Sơn ở Huế cùng với HT. Thích Quảng Nhuận, chư huynh đệ đệ tử Thiên Minh như Thích Châu Phong, Thích Châu Ninh, Thích Châu Sơn, Thích Châu Đức, Thích Nữ Diệu Âm... cùng họp lại để bàn bạc về những Phật Sự dở dang trong Pháp Phái và truy cử HT. Thích Măn Giác giữ chức vụ trú tŕ Chùa Thiên Minh Huế để nối ḍng truyền thừa.
Từ năm 1954, sau khi đă vào Sài G̣n đi học ở trường Vương Gia Cần được một thời gian, Sơn Môn Huế và Hội Phật Học Trung Phần công cử Ḥa Thượng làm giảng sư cho Hội Phật Giáo Đà Lạt và tới năm 1957, kiêm nhiệm luôn chức vụ Hội Trưởng, đồng thời cũng là đại diện chính thức cho Hội Phật Giáo Cao Nguyên Trung phần. Đây là những năm tháng Ḥa Thượng gắn bó với Phật Sự, dấu chân hoằng pháp in đậm trên mọi miền đất đỏ và đem lại rất nhiều an ủi cho quần chúng tin Phật đang bị thử thách trước nguy cơ đàn áp và dụ dỗ đổi đạo của chính quyền đương thời. Nhờ lắng nghe, chứng kiến những tâm sự thương tâm của người con Phật trong chọn lựa kiên tâm để giữ Đạo mà trái tim của Ḥa Thượng được nuôi lớn cảm xúùc để về sau nầy, Ḥa Thượng măi măi giữ một tấm ḷng sắt son với Đạo với Người.
Ở Đà Lạt, cùng với những buổi diễn thuyết công cọng và phát thanh để phổ triển nền đạo dân tộc, Ḥa Thượng c̣n thành lập cơ sở xuất bản Huyền Trang – bước đầu nền tảng của các hoạt động văn hóa Phật Giáo. Chính bầu thiên nhiên chiều đăi và quyến rũ của Đà Lạt đă ươm tẩm cho hồn thơ Huyền Không nở rộ mà cái c̣n để lại cho đời, cho những tâm hồn tin Phật là chút t́nh thơ quyện trong tiếng nhạc mênh mông của “một ngày qua”, của “ḍng suối nhỏ”, hay nỗi ḷng tha thiết của một “Nhớ Chùa”...
Năm 1960, sau buổi diễn thuyết tại Đại Học Văn Khoa Saigon với đề tài “Phật Giáo và nền Văn Hóa Việt Nam”, Ḥa Thượng rời nước để lên đường du học Nhật Bản. Tại đây, bên cạnh 5 năm dài miệt mài cầu học, Ḥa Thượng c̣n được may mắn tiếp xúc với miền đất Thiền Học hưng thịnh, cùng được thở với hương Đạo mặn mà ủ kín trong những bài thơ Hài cú tài hoa và chia xẻ những ấm cúng của t́nh người tươi son bền sắt của mấy mùa anh đào rực rỡ. Để đánh dấu kỷ niệm chuyến Đông Du nầy, khi về nước, Ḥa Thượng đă say mê chuyển dịch và cho in tác phẩm “Ngàn Cánh Hạc” của Kawabata và “Thủy Nguyệt”, mà mỗi lần nhắc tới, trong ánh mắt Ḥa Thượng c̣n lưu lại rất nhiều ngậm ngùi.
Cuối năm 1965, sau khi hoàn tất chương tŕnh tiến Sĩ tại Tokyo, Ḥa Thượng được Bộ Giáo Dục Việt Nam Cọng Ḥa chính thức mời về giảng dạy tại Đại Học Văn Khoa Saigon và Huế về bộ môn Triết Học Ấn Độ và Trung Hoa. Đây là chuỗi thời gian Ḥa Thượng thực sự dấn thân vào các hoạt động giáo dục, văn hóa, đặc biệt là trong môi trường đại học thời ấy để nhằm giải tỏa, vô hiệu hóa những xuyên tạc, ngộ nhận, những đối xử bất công bè phái đối với văn học và Phật Giáo Việt Nam nói chung.
Cũng trong năm nầy, Ḥa Thượng bắt đầu cộng tác chặt chẽ với Viện Đại Học Vạn Hạnh. Đây là viện đại học dân lập đầu tiên của Phật Giáo thoát h́nh từ Viện Cao Đẳng Phật Học do Giáo Hội thành lập và ủy thác cho HT. Nhất Hạnh, HT. Trí Thủ Điều Hành lănh đạo. Khi chuyển qua danh xưng Đại Học Vạn Hạnh th́ Ḥa Thượng đảm nhận trọng trách Khoa Trưởng Phân Khoa Phật Học và HT. Minh Châu là Viện trưởng. Vài năm sau, Ḥa Thượng được công cử chức vụ Phó Viện Trưởng Điều Hành kéo dài cho tới ngày miền Nam sụp đỗ, 1975, và Việân Đại Học bị chiếm dụng làm cơ sở nhà nước.
Sau tết Mậu Thân, đau ḷng trước khung cảnh hoang tàn đổ nát của Huế, Ḥa Thượng vận động thành lậâp Ủy Ban Bảo Tồn Cố Đô Huế và tích cực hoạt động trong vai tṛ Phó Chủ Tịch ủy ban. Đây là một chọn lựa hành động nhằm an ủi người dân thuộc quê hương huyết thống và Ḥa Thượng đă lăn xả vào công việc với trái tim nặng trĩu yêu thương.
Từ ngày về lại nước, một mặt Ḥa Thượng hăng say dấn thân trong môi trường văn hóa giáo dục của Đời Lẫn Đạo, mặt khác, Ḥa Thượng c̣n là một nhân tố tích cực trong Phật sự của Giáo Hội. Mấy công việc mà Ḥa Thượng đă đảm đuơng rất trọn vẹn trong cơ cấu Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất như:
- Quyền Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Thanh Niên, 1967. Thành công tốt đẹp nhất trong vai tṛ nầy là đă tổ chức mỹ măn Đại Hội Thanh Niên Toàn Quốc.
- Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Văn Hóa – 1968. Điểm son là cho ra đời tập san “Hải Triều Âm” và Tổ chức Đại Hội Văn Hóa toàn Quốc vô cùng rầm rộ tại Saigon, quy tụ nhiều khuôn mặt nỗi bật trong sinh hoạt trí thức.
- Trưởng Ban Tổ Chức nhiều năm các Đại Lễ Phật Đản trọng thể tại Thủ Đô Saigon và là tác giả của những ca dao mừng đón Phật sinh đă quá quen thuộc để trở thành tâm t́nh của đại chúng như “Cách xa dù mấy nhịp cầu, đến ngày Phật Đản năm châu cũng gần” hoặc “ngày rằm trăng sáng Phật sinh, toàn dân cầu nguyện ḥa b́nh Việt Nam.
Năm 1975, t́nh thế đất nước biến chuyển, mọi trật tự cũ của cơ cấu xă hội miền Nam thay đổi tận gốc rễ. Trong ba năm sau cuộc đổi đời (1975 – 1978), Ḥa Thượng là một trong những nhà lănh đạo Phật Giáo chọn lựa đi theo một đường lối mềm dẽo, dung ḥa và dung hóa để một mặt, giữ vẹn hệ thống và con đường hành hoạt của Giáo Hội Phật Giáo Thống Nhất và mặc khác, khơi nguồn cảm thông để tiếp tục ǵn giữ cơ may cho nền Đạo nở hoa trong mạch sống dân tộc. Nhưng dù đầy thiện chí, hoài băo cho một Giáo Hội phát triển bị vùi dập thảm thương và Ḥa Thượng, cuối cùng, phải lên đường vượt biển.
Từ năm 1978, sau cuộc vượt biển thành công, Ḥa Thượng Thích Măn Giác chính thức định cư tại Hoa Kỳ, trở thành Viện Chủ Chùa Việt Nam Los Angeles và là Hội Chủ Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ, một cơ cấu tậâp hợp các Chùa, Hội Phật Giáo tại Mỹ có cùng ước vọng phụng sự con người và Phật Pháp.
Trong cương vị Hội Chủ, với ḷng bi mẫn, gần 30 năm hành đạo trên đất mới, tâm niệm và hành tác của Ngài vẫn lúc nào cũng hướng về chăm lo cho chùa Tổ ở quê nhà, làm nhịp cầu để tiếp dẫn hậu lai nơi hải ngoại, ân cần hiện diện bên cạnh đồng hương trong mọi t́nh huống vui buồn của cảnh sống tha hương đất trích. Không chỉ ưu tư chăm sóc tinh thần cho những đồng bào lưu xứ, Ngài c̣n nỗ lực ươm tẩm hạt giống Phật pháp, đặc biệt là đem sắc thái Phật Giáo Việt Nam vào ḷng người bản địa, để từ đó, ḍng thiền Lâm Tế được truyền thừa qua những lần chứng nhận đắc pháp cho các vị Thích Minh Pháp (Shakya Prabhasa Dharma), Thích Ân Giao (Abhiseka Roshi), Thích Nữ Chân Từ (The True Loving Kindness)... Tấm ḷng thiết tha muốn đem Pháp Ấn của Chư Tổ ḍng Thiền Lâm Tế Chánh Tông đóng xuống trên mặt đất Tây Phương đă phô bày kết quả, đă có nhiều cánh hoa đạo rộ nở, đă có biết bao con người được an ủi chở che trong nền Đạo bao dung.
Những việc cần làm đă làm xong. Cuối đời, ḷng của Ngài b́nh an như thảnh thơi mây trắng.
Ḥa Thượng Thích Măn Giác, qua đạo hiệu Huyền Không là một hồn thơ Đạo. Tiếng thơ trầm ấm như tiếng hải triều trải rộng với mấy trăm bài đă là khoảng không gian rơ nét nhất ghi khắc tâm hồn và gương mặt tác giả. có lẽ thơ ấy là chính toàn thể cuộc đời Ḥa Thượng và đó cũng là cái ǵ Ngài thực sự để lại cho trần gian để làm thêm đẹp ḷng người. 60 năm làm thơ, thơ ấy sống chung trong 5 tập:
- Không bến hạn.
- Hương trần gian
- Không gian thành chiếc áo
- Kẻ lữ hành cô độc
- Mây trắng thong dong
Cuối đời, trong một đôi năm nằm bệnh, Ḥa Thượng lại xử dụng những ngôn từ cô đọng để viết nên những thi kệ súc tích thay cho lời dặn ḍ người c̣n lại.
Ngoài ra, về phương diện trước tác, sáng tác, phiên dịch, biên soạn... Ḥa Thượng c̣n để lại khoảng 25 cuốn sách giá trị về nhiều mặt cho nhiều đối tượng người đọc khác nhau.
Có đi vào khu vườn nhận thức sinh động ấy, người ta có thể tha hồ tự hái lấy cho ḿnh những nụ đẹp cành xinh, những hương và sắc nồng nàn tỏa ra từ một tâm hồn mà lư tưởng một đời trọn vẹn vẫn là làm kẻ trồng rừng cần mẫn, muốn làm đẹp đời sống văn hóa, làm cao thượng tâm hồn con người. Niềm say mê phụng sự đó, Ḥa Thượng đă chứng tỏ với đời tận cùng, kể cả lúc sức khỏe đă suy tàn trên giường bệnh.
Cuộc đời của Ḥa Thượng là h́nh ảnh của một trái tim tha thiết. Tha thiết thương yêu trần gian. Tha thiết yêu Đạo yêu người. Tha thiết bước đi dẫu nhiều lúc đă đi một ḿnh trên hành tŕnh phụng sự. Tự tin nhưng độ lượng và nhiều tha thứ nên cuối cùng, Ḥa Thượng vẫn là chỗ cho mọi người quay về nương tựa.
Tháng 4, 2006, sau khi được Bác Sĩ cho biết bị bướu độc ở phía năo phải, Ḥa Thượng đă chấp nhận một cuộc giải phẩu khó khăn, nhưng v́ tuổi già sức yếu, Ngài khó ḷng vượt qua căn bệnh ngặt nghèo. Sau một thời gian ngắn về chùa tịnh dưỡng, Ngài đă an tường xả báo thân ngày 13 tháng 10 năm 2006 (nhằm ngày 22 tháng 8 Bính Tuất), thọ 78 tuổi đời, 58 tuổi đạo.
Mặc dù quê cũ đă xa, Chùa Việt Nam Los Angeles đă vắng bóng, sắc thân của Ngài đă không c̣n gần gũi bên tứ chúng nhưng sự nghiệp hoằng hóa và phẩm cách từ bi của Ngài c̣n ở lại lâu giữa ḷng người hôm nay và ngày mai.
Nam mô Từ Lâm Tế Chánh Tông Tứ Thập Tứ Thế Việt Nam Phật Giáo Hoa Kỳ Tổng Hội Hội Chủ; Việt Nam Tự, Viện Chủ, húy Thượng Nguyên Hạ Cao tự Măn Giác hiệu Huyền Không Giác Linh Ḥa Thượng Thùy Từ Chứng Giám.
THI CA HUYỀN KHÔNG
VỚI TUỔI THƠ HỌC ĐẠO
Thích Phước An
Dạo ấy, vào khoảng cuối thập niên 50 và đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, Phật học viện Trung phần Hải Đức tại Nha Trang thấy cần phải mở rộng việc đào tạo tăng tài. Ngoài hai nơi đă có cơ sở sẵn là Báo Quốc (Huế) và Tu viện Già Lam (Sài G̣n), ban Quản trị quyết định mở thêm một chi nhánh nữa ở Cao nguyên Trung phần, địa điểm được lựa chọn là chùa Linh Sơn, Đà Lạt, nơi mà Ḥa thượng Măn Giác, tức thi sĩ Huyền Không đang làm Hội trưởng Hội Phật giáo Tuyên Đức (bây giờ là Lâm Đồng).
Hai mươi học tăng đang theo học Trung học đệ nhất cấp (cấp 2) được chọn để đưa đi. Trong số ấy có tôi, vừa mới học xong đệ thất (lớp 6 ngày nay) ở trường Bồ Đề Nha Trang.
Ḥa thượng Trí Thủ (bấy giờ là Thượng tọa giám viện) đích thân hướng dẫn hai mươi học tăng lên đường đi Đà Lạt.
Hôm ấy là một ngày đầu thu, Ban Giám đốc và toàn thể học tăng Phật học viện đều ra ga Nha Trang để tiễn đưa chúng tôi lên đường.
Đă gần bốn thập niên trôi qua rồi, vậy mà tôi vẫn c̣n nhớ như in cái buổi sáng đầu thu năm ấy. Lúc đó, dù x́ dầu, tương chao không đủ ăn, quần áo không đủ mặc, mà sao huynh đệ, thầy tṛ lại thắm thiết đạo t́nh với nhau như thế? Tôi cứ boăn khoăn tự hỏi, có phải vì lúc cái bả lợi danh của thế gian chưa dám bén mảng đến chốn Thiền môn như bây giờ chăng?
Tuổi thơ của chúng tôi đă lớn lên trong không khí trong lành không hề bị bất cứ một đám mây đen nào làm vẩn đục, nên tất nhiên chúng tôi có đủ lư do để mơ ước về một ngày mai tươi sáng của đạo pháp và của cả chính ḿnh.
Riêng tôi, dù lúc ấy chỉ vừa mới học xong đệ thất (lớp 6 bây giờ) nhưng cũng đă tập tành đọc được các tác giả của nhóm Tự Lực Văn Đoàn, đặc biệt là tác phẩm Đoạn Tuyệt của văn hào Nhất Linh, mà trong đó nhân vật chính là một thanh niên trí thức, ảnh hưởng Tây học, đă phải hy sinh t́nh yêu nhỏ bé của ḿnh để phản đối những quy định khắt khe của xă hội phong kiến đă lỗi thời.
Người thanh niên trí thức ấy đă lên đường đi đến những chân trời xa xôi, mà Thế Lữ đă cảm xúc ghi lại trong một bài thơ nổi tiếng là Giây phút chạnh ḷng:
Năm năm theo tiếng gọi lên đường
Tóc lộng tơi bời gió bốn phương.
Rồi trên đường phiêu dạt, vào một buổi chiều cuối năm dừng lại trong một gác trọ để:
Rũ áo phong sương trên gác trọ
Lặng nh́n thiên hạ đón xuân sang.
Cái h́nh ảnh một thanh niên cô độc trong gác trọ nơi đất khách quê người “lặng nh́n thiên hạ đón xuân sang” ấy đă làm quyến rũ nhiều người trẻ tuổi dạo ấy, trong đó tất nhiên có tôi.
Cũng vào đầu thập niên 50 của thế kỷ 20, thầy Huyền Không (xin được gọi như vậy để giữ một chút kỷ niệm về t́nh thầy tṛ từ khi tôi c̣n để chỏm) cũng có làm một bài thơ có tên là Ḍng suối nhỏ. Bài thơ diễn tả sự vui mừng náo nức của tác giả (hay cũng có thể là của toàn thể Phật tử Việt Nam) vào thời điểm đó, trước thềm đại hội của Phật giáo ba miền Bắc, Trung và Nam để hợp nhất thành một tổ chức duy nhất là Tổng hội Phật giáo Việt Nam (tiền thân của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất) diễn ra tại chùa Từ Đàm (Huế) vào năm 1951. Nhưng tất nhiên có nhiều cách để ta cảm nhận bài thơ này, chứ không đơn thuần là bài thơ chỉ để đón chào sự kiện lịch sử trọng đại này của Phật giáo Việt Nam.
Chẳng hạn, ta có thể xem ḍng suối nhỏ đó như chính là thân phận của mỗi người trong chúng ta. Ḍng suối ấy, dù đang chảy âm thầm, phải luồn lách qua không biết bao nhiêu là đầm lầy nước đọng, nhưng ḍng suối vẫn ước mơ rằng một ngày nào đó sẽ gặp được đại dương mênh mông.
Chúng ta cũng vậy, một hôm nào đó trong đời chợt nghe gió mùa se thổi, thấy đời sống chẳng có ư nghĩa ǵ cả, ngoài “bốn bức tường ủ rũ”, ta bỗng khát khao muốn đi đến những chân trời xa xôi, như ḍng suối nhỏ của thầy Huyền Không cũng đă từng khát khao như vậy:
Chất chứa bao niềm hận
Chật hẹp riêng cuộc đời
Đêm qua trời trở gió
Tôi mơ chốn xa vời.
(Ḍng suối nhỏ)
Trong thi phẩm Kẻ lữ hành cô độc được tái bản vào năm 2004 tại Mỹ, rồi trong tập kỷ yếu mừng khánh thọ vào năm 2005, thầy đều có trích đăng lại bài thi kệ này:
Nhất bát thiên gia phạn
Cô thân vạn lư du
Kỳ vi sanh tử sự
Giáo hóa độ xuân thu.
Mà thầy đă dịch là:
B́nh bát cơm ngàn nhà
Một thân muôn dặm qua
Chỉ v́ niềm sống chết
Giáo hóa độ Ta Bà.
Hồi c̣n ở Đà Lạt cũng như Sài G̣n, thầy Huyền Không thường kể cho tôi nghe rằng, khi thầy c̣n là một học tăng ở chùa Báo Quốc, thầy thường trốn học ra ngồi dưới gốc cây nhăn của chùa để đọc các nhà thơ mới như Huy Cận, Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Hàn Mặc Tử, v.v... và nhất là các tác phẩm của nhóm Tự Lực Văn Đoàn, đặc biệt là tiểu thuyết của Nhất Linh đă ảnh hưởng mạnh mẽ đến độ mà vào cuối đời, ngồi nhớ lại một làng quê đă xa xôi của tuổi thơ, thầy vẫn c̣n nhắc “... đêm nào nằm ngủ tôi cũng thường nghe tiếng sóng vỗ ngoài biển, tiếng sóng nghe ầm ầm gặp khi trời động. Nghe tiếng sóng vỗ, tôi liên tưởng đến anh Vọi trong truyện Trống Mái của Nhất Linh”.
Như vậy là cái “chốn xa vời ...” mà thi nhân ước mơ đó ngoài âm hưởng của “cô thân vạn lư du”, tức là h́nh bóng của những kẻ xuất trần thượng sĩ tự nguyện rong ruổi một ḿnh trên những nẻo đường của trần gian để lay động con người của trần gian đang ngủ mê trong đêm dài sanh tử ra, th́ c̣n có cái lăng mạn của một thanh niên trí thức thời đó (qua Dũng trong Đoạn Tuyệt của Nhất Linh). Thứ lăng mạn mà các nhà văn nhà thơ thời bấy giờ đều thể hiện trong các sáng tác của ḿnh.
Sở dĩ tôi muốn nhấn mạnh đến vấn đề này là v́, chúng ta c̣n nhớ rằng, văn thơ của Phật giáo thời ấy hầu như bị đóng khung hoàn toàn trong “nhà chùa”, nghĩa là hầu hết văn hay thơ đăng trên báo chí của Phật giáo trong những thập niên đầu thế kỷ 20 và cả giữa thế kỷ nữa cũng chỉ dành cho các Phật tử đi chùa lạy Phật đọc mà thôi. Và chắc chắn thầy Huyền Không là một trong những người tiên phong biết kết hợp giữa các giá trị tâm linh siêu việt của Phật giáo với nghệ thuật đương đại để có thể đưa văn thơ của Phật giáo ra khỏi cổng tam quan của chùa vậy.
Chính nhờ thế mà hồi ấy và có lẽ bây giờ cũng vậy, vẻ đẹp của những ngôi chùa không chỉ dành riêng cho những Phật tử đi chùa lễ Phật nữa, mà ngôi chùa đă nghiễm nhiên trở thành biểu tượng cho cái đẹp đầy tâm linh của dân tộc. Nếu không có những người tiên phong như thầy Huyền Không th́ có lẽ ngày nay nếu mỗi khi chúng ta có dịp nói đến cái đẹp của những ngôi chùa th́ chúng ta phải mượn tên các thi nhân bên ngoài như Anh Thơ, Hồ Dzếnh, Thanh Tịnh hay Nguyễn Bính, v.v... Nhưng chúng ta nên biết rằng, họ là những người ở bên ngoài ngôi chùa, nên họ chỉ thấy được cái đẹp từ bên ngoài chứ tuyệt nhiên họ chưa đi vào được cái đẹp tinh thần cũng như sứ mạng mà ngôi chùa đă đóng góp như thế nào đối với đời sống tâm linh của dân tộc.
Đó là chưa muốn nói đôi khi họ c̣n hiểu lệch lạc tinh thần của ngôi chùa. Ví dụ bốn câu sau đây của Thanh Tịnh:
Đạo sĩ chờ tôi chán hải hồ
Tôi chờ đạo sĩ lăng hư vô
Tôi mơ trăng lạnh Hàn Sơn tự
Ấp ủ men t́nh đội áo khô.
Trên phương diện thi ca, theo tôi th́ bốn câu trên quá hay không thể chê vào đâu được nữa. Nhưng trên phương diện tinh thần th́ Thanh Tịnh đă hiểu lầm, v́ ngôi chùa không phải là nơi để ông trở về chữa vết thương của t́nh yêu, rồi đợi một ngày nào đó vết thương đă lành th́ lại bỏ chùa để ra đi theo một chuyện t́nh khác:
Tôi mơ trăng lạnh Hàn Sơn tự
Ấp ủ men t́nh đội áo khô.
Bởi vậy phải đợi đến khi bài thơ Nhớ chùa của thầy Huyền Không ra đời (1956) th́ mới xác định đúng vị trí của ngôi chùa đối với đời sống tinh thần của dân tộc:
Tiếng chuông thức tỉnh lan xa măi
An ủi dân hiền mọi mái tranh.
hay triệt để hơn:
Mái chùa che chở hồn dân tộc
Nếp sống muôn đời của tổ tông.
Hồi nhỏ tôi đă xuất gia tại một ngôi chùa ở miền quê nghèo khổ của miền Trung. Chùa nằm dưới một ngọn núi hùng vĩ cách xa xóm làng. Muốn vào chùa phải lội qua một con suối, chung quanh suối có nhiều tre mọc san sát bên nhau.
Lớn lên rời bỏ ngôi chùa quê vào sống nơi những ngôi chùa ở thành phố, nên mỗi lần đọc bài thơ Nhớ Chùa đến hai câu:
Có hàng tre gợi hồn sông núi
Yên lặng chùa tôi ngập nắng vàng.
th́ tôi lại nhớ thương da diết về ngôi chùa của tuổi thơ dạo ấy.
Và tôi cứ thắc mắc tự hỏi là có phải ngôi chùa mà thầy nhớ trong bài thơ Nhớ Chùa đó là chùa Thiên Minh ở Thành phố Huế, nơi thầy đă xuất gia học đạo hay là ngôi chùa Linh Sơn ở Thành phố Đà Lạt nơi thầy đă từng sống và làm việc trong nhiều năm? Nếu là những ngôi chùa ở hai thành phố ấy th́ làm ǵ có cảnh “mỗi tối dân quê đón gió lành” và làm ǵ có hàng tre để thầy “gợi hồn sông núi”. Nỗi thắc mắc ấy đến mấy thập niên sau mới được giải đáp nhờ tôi đọc được một tùy bút ngắn là Phương Lan, quê tôi của thầy:
“Quê hương Quảng Trị của tôi làng nào cũng giống nhau, cũng mái tranh, cũng khói lam chiều. Mùi rơm, mùi rạ, mùi trâu ḅ, mùi gia súc mang lại cho ta một thứ t́nh quê mặn nồng, không ai có thể dễ dàng quên trong cuộc đời nếu thời ấu thơ của chúng ta đă từng sống ở làng quê”.
Khi chiến tranh bất ngờ ập đến, không thể về quê được, cũng như nhiều người khác thầy cũng nhớ da diết: “... T́nh quê của tôi nó thâm nhập như vậy, nên chi trong thời chiến tranh về thăm làng không được, vào năm 1956 tôi đă sáng tác bài thơ Nhớ Chùa. Ở nhà quê, làng nào cũng có chùa, chùa nào cũng có hương hỏa phụng thờ, nơi gửi gắm bao đời của tổ tiên”.
Như vậy là thầy đă không lấy cảm hứng từ chùa Thiên Minh ở Huế hay chùa Linh Sơn ở Đà Lạt, tức là những ngôi chùa ở nơi phồn hoa đô hội, mà thầy đă lấy cảm hứng từ những ngôi chùa ở tận những thôn làng nghèo khổ để sáng tác ra bài thơ Nhớ Chùa.
Những ngôi chùa nghèo khổ này vẫn đứng đó trong âm thầm lặng lẽ để chia sẻ, để an ủi những mảnh đời bất hạnh, những mảnh đời lầm than cơ cực của những người nông dân chân lấm tay bùn, từ đời này qua đời khác, từ thế hệ này qua thế hệ khác vậy.
Và theo tôi, chẳng phải một bài thơ hoặc một tác phẩm được cho là hay, có nghĩa là bài thơ ấy, tác phẩm ấy đọc vào ai cũng phải thấy thấp thoáng có bóng dáng hay tâm tư của chính ḿnh trong đó hay sao?
Bởi vậy, dù phiêu dạt ở chân trời góc bể nào đi nữa, th́ thầy vẫn nhớ về những ngôi chùa tận những miệt miền quê nghèo khổ ấy, nói theo cách nói của thầy th́ “... v́ nỗi nhớ th́ quá nao nao, cho nên tôi đă phải liều mà trồng hoa trong mùa băo tố:
Biết đến bao giờ trở lại quê
Phân vân ḷng gởi nhớ nhung về
Tang thương dù có bao nhiêu nữa
Cũng nguyện cho chùa khỏi tái tê”.
Xin được trở lại với chuyến đi Đà Lạt của ngày đầu thu dạo ấy.
Khi xe lửa bắt đầu móc từng móc sắt chậm chạp leo lên đèo Sông Pha để tiến vào Thị trấn Đơn Dương th́ không khí khác hẳn, nghĩa là mát mẻ vô cùng. Có lẽ v́ 20 người trong chuyến đi ấy hầu hết đều được sinh ra và lớn lên ở dưới đồng bằng nên tất cả đều có cảm giác là đă vừa vứt lại sau lưng cái nóng bức của mười mấy năm đầu tiên trên mặt đất này. Hai bên đường ray xe lửa là rừng thông xanh, là suối chảy róc rách, là hoa dại đủ màu sắc, nhưng đặc biệt nhất là hoa dă quỳ đang nở rộ làm vàng rực cả núi rừng.
Em đi lên vói bắt mấy hương màu
Miền đất thượng có mấy bờ hoa mọc.
(Bùi Giáng)
Có lẽ phải nhờ hai câu thơ ấy mới có thể diễn tả hết sự náo nức của tôi trong chuyến đi này. Náo nức v́ không phải được đi Đà Lạt mà c̣n náo nức cho cả những ngày tươi đẹp c̣n dài trước mắt chúng tôi, tươi đẹp như thành phố ngàn hoa mà chúng tôi đang sắp sửa bước vào đây.
Khi tàu lửa vào ga Đà Lạt th́ trời đă xế chiều. Thầy Huyền Không đă đứng chờ sẵn ở đó để nghênh đón Thượng tọa Giám viện và học tăng chúng tôi.
Nh́n thầy và nh́n những tia nắng mong manh của buổi chiều tà đang xuống chậm giữa đồi núi chập chùng, tôi liên tưởng đến bài thờ Một ngày qua của thầy. Bài thơ mà vào khoảng cuối thập niên 50 và những năm đầu thập niên 60 (thế kỷ 20) một nhạc sỹ nào đó đă phổ nhạc, và được một ca sỹ Phật tử nổi tiếng là Duy Khánh hát, rồi trong các ngày lễ Phật lại được các em thiếu nhi gia đ́nh Phật tử áo lam hát vang lên trong các sân chùa vào mỗi chiều Chủ nhật của miền Nam thời đó. Chúng ta nên biết rằng, chỉ sau năm 1963 th́ văn nghệ Phật giáo mới bắt đầu và sau đó nở rộ vào những năm từ 1967 đến 1974. Nhắc lại như vậy, để thấy rằng thầy Huyền Không là một trong những người đă có công đưa văn nghệ Phật giáo bắt đầu ảnh hưởng đến xă hội thời bấy giờ, chứ không chỉ giới hạn trong nhà chùa như trước đó nữa.
Bài thơ đó tôi nhớ loáng thoáng như thế này:
Ngày tàn theo gót hoàng hôn
Bóng chiều đổ xuống tâm hồn ai đây
Thông xanh rải rác phấn vàng
Nghe trong gió thoảng cung đàn biệt ly.
hay một đoạn khác:
Chiều xuống giữa rừng dâu
Chân bước đi về đâu?
T́m cái ǵ đă mất
Không thấy lại hôm sau.
...
Lá vàng lác đác gió bay
C̣n đâu đây nữa một ngày đă qua.
Thời gian tàn phá và hủy diệt mọi sự, nhưng đau đớn thay là tất cả chúng ta đều gần như trơ ĺ và chẳng hề biết rằng ḿnh đang trên con đường đi đến hủy diệt.
Chỉ có Thiền sư và thi nhân là những kẻ biết rất rơ rằng ḿnh cũng sẽ bị hủy diệt trong một ngày nào đó không xa.
Bài thơ Một ngày qua, được Thầy Huyền Không sáng tác lúc c̣n trẻ, chỉ khoảng trên 30 tuổi, cái tuổi c̣n chan chứa mộng đời, cho nên nếu có buồn th́ cũng chỉ buồn man mác mà thôi.
Nhưng đến tuổi xế chiều th́ khác, không thể nói là buồn nữa, mà dù muốn hay không cũng phải chấp nhận nó như một sự thật hiển nhiên v́ theo Thầy : “Không ai có thể đưa tay níu lại thời gian để giữ cho ḿnh không thay đổi. Thôi th́ hăy hài ḥa chấp nhận và thảnh thơi sống với cái thời gian thực sự; đó là cách t́m sự an tâm trước mọi đổi thay”.
Và v́ vậy cho nên lúc 55 tuổi Thầy có viết:
Cây tùng năm lăm tuổi
Trên đầu lá c̣n xanh
Thiền sư già cằn cỗi
Môi nở nụ cười lành.
(Cây tùng)
Có lúc nh́n thời gian trôi qua nhanh không chỉ “môi nở nụ cười lành” thôi, mà c̣n “cười vang suốt đêm trường” nữa:
Thiền sư đi trên đường
Áo rộng đầy t́nh thương
Thời gian không níu lại
Cười vang suốt đêm trường.
Riêng tôi, th́ có lẽ chưa đủ nội lực như Thầy để “cười vang suốt đêm trường” dù có thể đó chỉ là cái cười chua xót. Nhưng ngược lại, mỗi lần đọc bốn câu mà theo tôi rất là lạ lùng sau đây trong bài Kẻ lữ hành cô độc của Thầy:
Trong đêm vắng kêu vang
Tiếng vọng khắp xóm làng
Ai biết kêu ǵ nhỉ
Trên trời mây lang thang.
Nhất là vào những đêm khuya khoắt chợt thức giấc, th́ những mảnh đời đă ly tán lại trở về chập chờn trong kư ức mịt mù của tôi; đó là những ngày ấu thơ nơi một làng quê nghèo khổ nhưng lại có rất nhiều mây trắng và c̣n có cả ngôi chùa xưa tịch mịch lúc nào cũng tràn ngập nắng vàng. Rồi những năm tháng được sống bên cạnh Thầy tại chùa Linh Sơn ở Đà Lạt. Cái thành phố sương mù thơ mộng này dường như đă nuôi dưỡng hồn thơ của Thầy từ những ngày c̣n trai trẻ. Có lẽ con người chỉ thực sự sống với chính ḿnh, khi con người biết ngồi một ḿnh để hồi tưởng lại những ngày c̣n ấu thơ của chính ḿnh. Chỉ những lúc ấy, ta mới chợt nhận ra rằng, dù hiện tại ta có là ǵ đi chăng nữa, th́ cuối cùng ta cũng sẽ chỉ là một kẻ bơ vơ lạc lơng bước đi một ḿnh trên mặt đất hoang vu này mà thôi, hay một Kẻ lữ hành cô độc, nói theo ngôn ngữ thi ca của Thầy. V́ sao? V́ chẳng phải Saint Exupéry đă từng nói cho chúng ta biết rằng: “...bóng tùng quân ngh́n tầm xiêu đổ, th́ cái con người trơ trụi sẽ chỉ c̣n nghe rơ trong hoang liêu mối ngậm ngùi xuân xanh xa mất”* đó sao?
C̣n một điều nữa, không thể không nói đến trong thi ca của thầy Huyền Không. Đó là tấm ḷng của Thầy, một kẻ tha hương nhưng lúc nào cũng ngóng trông về cố quốc:
Chiều nay mưa ḷng ai
Tâm hồn ch́m xa vắng
Ra đi đất nước người
Nh́n nhau đầy thầm lặng.
(Tiễn đưa)
Ở nơi xứ người, dù mỗi năm mùa xuân vẫn đến, nhưng làm sao vui cười được nhỉ ?
Thương Xuân tuyết trắng trên đầu núi
Nhớ nước làm sao nở nụ cười.
Có lẽ hai câu thơ trên đă đủ để nói lên hết tất cả tấm ḷng của Thầy đối với quê hương đất nước rồi chăng?
Trong hơn 20 năm qua, mỗi lần viết thư cho tôi, lúc nào Thầy cũng nói lên cái mong ước của Thầy là, một ngày nào đó sẽ về thăm lại quê nhà, thăm lại những ngôi chùa có con đường đỏ chạy lang thang. Và mỗi khi hồi âm cho Thầy, tôi cũng đều chép hai câu thơ của Thầy, hai câu thơ mà tôi đă thuộc nằm ḷng từ khi c̣n ở với Thầy ở chùa Linh Sơn (Đà Lạt):
Tiếng chim hót ngoài xa
Vui như ngày trở lại.
Dù bây giờ có lẽ chim đă bắt đầu hót ngoài xa, nhưng tôi nghĩ trong ngậm ngùi, mai này trong những người trở về thăm lại quê nhà đó sẽ không bao giờ có Thầy trong đó nữa ... ❒
Nha Trang, những ngày cuối Xuân Đinh Hợi (2007)
T.P.A.
* Bùi Giáng dịch.
Tưởng nhớ Giác Linh Ôn
Thích Phước Toàn
Viết về Ôn th́ con chưa dám, song nơi đây con chỉ xin phép ghi lại vài ḍng bộc bạch tự đáy ḷng của con kính dâng lên Ôn. Để như một nén hương tưởng niệm ân giáo dưỡng và cũng là điểm mốc của ngọn nến lung linh thắp từ án giác linh Ôn, đă và sẽ là ánh sáng soi chiếu tâm con trên bước đường hướng và hành đạo sắp tới.
Kính Ôn, quả thật trăm nghe không bằng mắt thấy, thời gian con được có duyên cận kề bên Ôn, là những dấu ấn sâu xa trong ḷng con. Tính Ôn thật nghệ sĩ như bao ng̣i bút tài ba đă tả về Ôn, có người c̣n đi xa hơn, “Một thiền sư phải là một nghệ sĩ.” quả đúng vậy. Một thiền sư
th́ tâm hồn chắc chắn là thật trong sáng, vàụ tâm hồn trong sáng ấy sẽ toát ra một sự khoáng đạt, và không thiếu sự đa năng, đa tài kèm theo, song con không dám lạm bàn về lĩnh vực nầy ở Ôn. Nhưng, khi làm việc dưới Ôn con mới cảm nhận được, ở tâm hồn nghệ sĩ đó đă cưu mang và thao thức một hướng đi và sự xây dựng, làm sao cho tiền đồ đạo pháp được xán lạn thêm ra, và quê hương dân tộc được thanh b́nh no ấm mà ai có thật sự kề cận Ôn mới nhận ra được tâm tư sâu kín ấy. Như mỗi khi bên quê nhà, quí thầy gặp phải sự rắc rối của chính quyền. Không ồn ào chống đối như những người khác, Ôn chỉ lặng lẽ soạn thảo thư gởi ṭa bạch ốc hoặc t́m đến gặp các thượng nghị sĩ nhờ can thiệp.
Trên lĩnh vực giao tế, đối với quí thầy, các đệ tử, hoặc các đạo hữu, Ôn ít khi gọi ai bằng con, mà chỉ gọi tên dù già hay trẻ. Đó chính là một đức hạnh mà con học được ở Ôn. Có một thầy buộc miệng nói, “Ôn xa Huế lâu rồi mà phong cách giao tiếp của vị tăng gốc Huế vẫn c̣n nguyên, nên Ôn thường gọi chung là các anh em, điều đó làm quí thầy đối diện không bị khoảng cách mà c̣n cảm thấy gần gũi hơn.”
Thường khi Ôn dùng bữa xong, con ngang qua. Thấy Ôn tự dọn dẹp, khi bắt gặp như thế là con tự động đến dọn xuống. Đó là điều tế nhị bằng ư giáo là, không sai vặt người khác. Dù ở cương vị của Ôn, theo phép, quí thầy ở trong chùa đều phải có bổn phận luân phiên để hầu Ôn những công việc vặt vảnh hằng ngày như thế, nhưng không, việc ǵ làm được là Ôn đứng dậy đi làm. Từ việc pha trà, làm bếp, khi đến bữa mà không thấy có ǵ dọn lên là Ôn tự tay đi làm lấy, thậm chí khách đến, không có người hầu trà, Ôn cũng đích thân đi pha.
Kính Ôn, quả là Ôn rất coi trọng ân nghĩa như lời di chúc mà Ôn đă để lại. Hồi chưa có khả năng để xây lại ngôi chùa Việt Nam như bản vẽ mà Ôn đă xin phép theo ư định của Ôn lúc bấy giờ. Trong những năm ấy, mỗi lần trời mưa, nước dột đổ xuống như máng xối. Ôn than, “Cái khổ nhất đời người là nhà dột, ... nợ đời, con hư, mà nhà chùa đă gặp phải một trong những cảnh ngộ đó, nhà dột.” Mặc dù con đă ư thức được rằng một vị tăng, dù khách hay là thường trú trong một ngôi chùa, th́ vị ấy phải có bổn phận để lo xây dựng và bảo vệ ngôi chùa đó như đang bảo vệ và xây dựng ngôi Tam Bảo ở trong chính ḿnh, song câu nói trên của Ôn đă làm tâm con xao xuyến không ít. Con hiểu và rất thương Ôn trong hoàn cảnh khó khăn nầy, nên dù nửa đêm hay hai-ba giờ sáng, mỗi khi trời vừa rắc cơn mưa là con liền thức dậy đi lấy ni lông để trải, lấy những cái thùng để hứng nước và múc nước đi đổ. Ngôi chùa nầy Ôn coi như một di tích lịch sử mà Ôn Thiên Ân là vị Tăng Việt Nam đầu tiên đến khai sơn trên xứ sở tây phương, nên dù địa thế thật khó phát triển, không có chỗ đâu xe cho khách thập phương lai văng; nhiều Thầy lớn và một số phật tử khác có thiện ư, đă nêu ư kiến với Ôn, nên thay đổi địa điểm, tức là bán đi đêă mua chỗ khác hầu thuận tiện cho việc phát triển và hằng pháp, nhưng Ôn vẫn không muốn, v́ đây là ngôi chùa đầy kỷ niệm thiêng liêng của Ôn Thiên Ân vậy. Ở vào phương diện khó khăn tài chánh, Ôn vẫn lưỡng lự, xây cất lại hoặc đại trùng tu và phát triển thêm ra. Ôn đă suy nghĩ và cân nhắc, rồi Ôn đă đồng ư cho con kêu thợ, có thêm sự góp sức của quí thầy và vài Phật tử ở trong chùa. Cuối cùng nương nhờ hồng đức của Ôn và sự độ tŕ của Tam Bảo, ngôi chùa đă trùng tu hoàn măn rất khang trang vào cuối năm 1992.
Kính Ôn, con xin phép được dông dài như thế để nói lên một phần cảm nhận của con về niềm thao thức sâu kín nơi Ôn. Có lẽ là duyên thầy tṛ, suốt mười hai năm nay, từ khi rời khỏi ngôi chùa Việt Nam, đơn thân ra làm phật sự ở một vùng xa xôi cách thầy tổ, nương hạnh nguyện của Ôn, con thường tâm nguyện, sự dấn thân đó như một bổn phận để đền ân Tam Bảo, ân giáo dưỡng và ân cơm áo của đàn na. Trên con đường phật sự, con đă trải nghiệm lắm điều nan giải mà ḷng vẫn không sờn. Cũng nhờ thế, con đă có nhiều cơ hội để tư duy, và rồi con đă nghĩ đến sự khó khăn của Ôn rất nhiều. Ngày tang lễ Ôn, quí Thầy lớn, đă giao cho con phận việc bưng y bát để tượng trưng cho sự truyền thừa pháp tử, tuy con vẫn thầm lặng nhận, như cái thầm lặng mà Ôn đă đặt lên vai con một trách nhiệm của hai mươi năm trước vậy. Con vẫn cảm thấy tự thân chưa tṛn bổn phận, v́ thời gian qua, hoàn cảnh không cho phép, là một đệ tử, đáng ra con phải kề cận để hầu Ôn trong những ngày cuối trước khi Ôn xả báo thân.
Kính bạch giác linh Ôn: qua những năm làm phật sự dưới sự chỉ dạy của Ôn, là một đệ tử non dại như con lúc bấy giờ, có thể đă không tránh khỏi những vụng về thiếu cân nhắc, th́ làm sao tránh khỏi sự mang đến phiền nhiễu cho Ôn, thậm chí có thể con đă có những cử chỉ thiếu tế hạnh mà con không biết. Tuy con vẫn biết là hạnh nguyện và với tấm ḷng bao dung độ lượng của Ôn, chưa bao giờ Ôn để tâm đến những lỗi lầm nhỏ nhặt của ai, kể cả những người đă chống báng Ôn một cách vô cớ, song con vẫn cúi lạy hướng vọng giác linh Ôn nơi cảnh giới thênh thang ba lạy, sám hối những lỗi lầm sơ xuất, nếu có, và cũng để tưởng nhớ ân giáo dưỡng, kính xin giác linh Ôn chứng giám.
Tacoma tháng 11, 2006
THÂN GIÁO CỦA MỘT THIỀN SƯ
Mật Nghiêm Đặng Nguyên Phả
Kính bạch Chư Tôn Đức,
Kính thưa toàn thể Qúy Vị;
Một Thiền Sư Việt Nam, ̣đời thứ 44 dòng Lâm Tế ra đi đã để lại những vần thơ như sau:
“Tiễn biệt trần gian như ảo mộng
Thế nhân ta gọi thế nhân ơi
Cho tôi thấy bóng mờ hương khói
Đi đến bờ kia của cuôc đời.”
Trong một bài thơ khác có tên “Mộng Ảo” , Ngài viết:
“Người đã đi vào cõi mênh mông
Bình minh mở cửa dòng sông mây vào
Tháng ngày lãng đãng chiêm bao
Trăm năm sau nữa ai nào nhớ quên.”
Ngài đã ví mình như HẠT CÁT với những câu:
“Ta là hạt cát cỏn con
Muôn năm thế kỷ sắt son một lòng
Biển đời vượt hết long đong
Trần gian ai đọc đôi dòng tăm tư.”
Và ở vai trò Thiền Sư, Ngài vui chơi trong còi mộng như:
“Thiền Sư đi trên đường
Áo rộng đầy tình thương
Thời gian không níu lại
Cười vang suốt đêm trường.”
Sau khi đọc những dòng tâm tư hoa gấm và tha thiệt đó, chúng tôi có cảm hứng làm một bài thơ để tưởng niệm Ngài có tên là “HOA KHÔNG TÀN” như sau:
Tiễn đưa Thi sĩ HUYỀN KHÔNG
Nhà Thơ MÂY TRẮNG THONG DONG vào đời
LỮ HÀNH CÔ ĐỘC vẫn cười
Ngàn năm để lại thơ tươi còn hoài
Kiếp này chẳng kể ngắn dài
Ra đi lưu bút nhiều bài TÂM CA
Hôm nay người đã đi xa
Tặng Đời thơ đẹp như hoa không tàn.”
Kính thưa chư Tôn Đức và các Đạo Hữu,
Ở cái tuổi ngoài thất thập cổ lai hy, trong đời chúng tôi đã gặp nhiều biến cố đặc biệt. Nhưng, có lẽ những lần xúc cảm và rung động nhất vẫn là khi mất một người thân.
Khi một người thân ra đi. Tôi thường có hai cái thấy: một là thốy sự xúc động của tâm mình, hai là nhìn thấy nghiệp báo của người ra đi. Cả hai sự quán chiếu nàu đều giúp cho tôi hiểu về nhân duyên của cuộc sống hơn và trưởng thành hơn trên con đường đi theo bước chân Phật. Sự ra đi của Đại Lão Hòa Thượng Thiền Sư Mãn Giác đã khiến cho tôi xúc động nhiều, xúc động đến lặng người. Ngay lúc được tin, cảm xúc đầu tin là thấy một cái lực vô hình chĩu nặng trong tim, rồi sau đó trở thành bâng khuâng và mất mát. Trước kia tôi coi Ngài như một bậc Đạo Sư. Tôn kính như những vị Thầy khác. Nhưng, từ ngày tiếp xúc nhiều lần với Ngài, nhất là từ khi chúng tôi dự định thành lập Hội Phật Học và chương trình phát thanh Đuốc Tuệ mới thấy rõ tâm lượng rộng lớn và niềm thiết tha với Đạo Pháp của Ngài. Ngài chính là người nâng đỡ khuyến khích tinh thần và ủng hộ̣ vật chất cho chúng tôi bước đầu cùng với Sư Bà Diệu Từ mà chúng tôi không bao giờ quên ơn. Chúng tôi có thể nói sự ra đời của Hội Phật Học Đuốc Tuệ là nhờ nơi công đức lớn lao của Ngài. Từ đó, tuy chúng tôi không thường xuyên lên đảnh lễ và thăm viếng Ngài, nhưng giữa chúng tôi và Ngài có một niềm giao cảm vô hình qua một Đạo tình khắng khít.
Trong công việc hộ Đạo của chúng tôi, cũng nhờ ở uy đức của Ngài mà Hội Phật Học Đuốc Tuệ đã mời được các thầy, cô giảng Pháp, mở ra một phong trào học Phật tại miền Nam Cali này từ hai năm nay. Điển hình là mở đầu với Thầy Tâm Thiện. Thầy đã đến với HPHĐT và Phật tử Nam Cali với sự giúp đỡ của Ngài.
Tôi còn nhớ vào năm 2004, chúng tôi hai lần lên chùa Việt Nam - Los Angeles mời Thầy Tâm Thiện nhưng thầy đều lánh mặt. Đấn lần thứ ba thì chúng tôi xin vào gặp Hòa Thượng để trình bày ý nguyện. Hòa Thượng đã vui vẻ tán đồng và bảo chúng tôi chờ để cho người đi mời thầy Tâm Thiện lên tiếp kiến. Lần đó thầy cũng ra nên chúng tôi đành lại về không.
Vì biết chúng tôi có lòng thực tâm hộ Đạo nên Hòa Thượng thương khi thấy vẻ thất vọng hiện lên nét mặt vì không gặp được Thầy Tâm Thiện, Ngài nói: “Thôi Mật Nghiêm cứ về đi, hai ngày nữa vào lúc 9 giờ 30 tối Chủ Nhật, Tâm Thiện sẽ lên gặp Thầy có việc. Thầy cho số điện thoại của phòng thầy, đúng giờ đó cứ gọi lên, thầy sẽ không bắt phone mà để Tâm Thiện bắt, lúc đó thì thỉnh liền.” Tôi đã làm đúng như sự sắp đặt đầy tình thương của Ngài và kết quả là được thầy Tâm thiện nhận lời. Nhờ đó Đuốc Tuệ có được giảng sư Tâm Thiện với những bộ CD giảng Pháp như ngày nay.
Trên đây chúng tôi vài nét tâm tình đầy ưu ái của Ngài đối với riêng Đuốc Tuệ, lẽ ra thì phần phát biểu trên đây có thể chấm dứt bằng 4 câu thơ chúng tôi làm để tưởng niệm Ngài có đầu đề là “QUA CẦU” như sau:
Ôn có bao giờ chết được đâu
Chỉ vừa cởi áo bước qua cầu
Vượt dòng sinh tử sang bờ Giác
Để lại cho đời kỷ niệm sâu.”
Chúng tôi chưa muốn ngừng lời mà muốn nói thêm chút nữa về lòng Từ Bi của Ngài đối với mọi người và thái độ của Ngài đứng trước vấn đề bệnh hoạn và sinh tử. Nhưng điều tôi sắp kể ra đây là chính do Ngài viết trong bài “Có Một Mùa Xuân” đăng trong Đặc San Phật Giáo số 134 vào tháng Giêng 2006 mừng Xuân Bính Tuất.
Việc tổ chức sinh nhật cho Ngài, Ngài nói:
“Thật tình tôi chưa từng tự ý tổ chức cho mình một lễ Sinh Nhật nào vì trong dòng máu Việt, tôi cũng thích niệm tử hơn niệm sinh. Thế nhưng sau lần mổ tim, nhất là dịp tròn 70 tuổi, những người thương lo và gần gũi tôi nhất muốn cho tôi thương niềm vui sống nên đã nượn ngày sinh làm cái cớ cho những sum vầy thân ái. Từ đó, tôi được dịp chia vui với mọi người và tự nhắc nhỡ mình phải có được những năm sống thêm đẹp đẽ, hữu ích cho mình, lợi lạc cho tha nhân.”
Đọc xong những dòng tâm sự vừa trích dẫn, tôi thất cảm động đến nghẹn ngào khi biết được rằng Ngài chấp nhận cho tổ chức sinh nhật vì tinh thần lục hòa và để tự nhắc mình những năm sống thâm đẹp đẽ, hữu í́ch hco mình và lợi lạc cho tha nhân, riêng Ngài, Ngài vẫn thị́ch niệm tử hơn niệm sinh. Thật là một sự thân giáo tuyệt vời của một bậc thiền sư.
Bây giờ nói đến thái độ của Ngài đớng trước bệnh hoạn và niềm đau thể xác, Ngài đã tiất lộ thế này:
“Đã có lúc tôi nghĩ năm Ất Dậu 2005 đấi với tôi là một năm tốt đẹp nhưng không phải như thế. Từ cuối năm Thân 2004 thân thể trở bệnh, vào ra bệnh viện liên miên. Những người thân thiết với tôi, đôi khi vì quá lo lắng, đã tắt ngúm mọi hy vọng trong lòng và lặng lẽ đợi giây phút tôi được về với Phật. Bệnh tật của thân là một thách thức tinh thần, một xách động tâm lý khiến cho nhiều người sợ hãi, bối rối... đưa đến nhiều bất an cho tâm. Tôi thực sự dững dưng trước mọi thách đố của thân bệnh, luôn luôn có thái độ chập nhận. Tôi có cảm giác rằng một số người chung quanh tôi đã đau nhiều hơn nỗi đau tôi đang có. Bất cứ một trạng thái tâm lý yếu đuối nào cũng làm cho bệnh tật thắng thế và do đó, sự hành hạ thân xác và tâm hồn sẽ mãnh liệt hơn. Bởi vì tôi không coi bệnh tật là trở ngại chính cho mọi dự tính hoạt động trong đời thường cho nên tôi đang hưởng một niềm vui của một người đang làm việc. Cũng chính những niềm vui đó giúp tôi làm lành với bệnh và thắng vươđt bệnh. Tôi muốn tôi vỗn còn là một thứ năng lượng hỗ trợ cho các vị Tăng trẻ trên bước đường sinh hoạt để giữ Đạo, giữ lòng người gần Đạo trên chốn đắt mới nhiều thách đố nên lúc nào tôi cũng sẵn sàng để có mặt bên cạnh họ.”
Những lời tâm sự trên của Ngài thật là tha thiết đầy tình thương với tâm lượng bao dung lúc nào cũng nghĩ đến những người kế tục con đường để giữ Đạo và hành Đạo. Đọc đến đây tự nhiên trong tôi thấy nước mắt lưng tròng. Tôi tưởng nhớ đến Ngài lúc mà Ngài nắm tay tôi và hai mắt Ngài đổ lệ. Thì ra Ngài thương tôi, thương cho một kẻ hậu sinh đang dò dẫm trên đường Đạo và lng thang trong sáu nẻo luân hồi.
Ngài đã kết luận bằng đôi lời tâm sự như sau:
“Năm nay với tuổi 77, tôi vẫn thấy tôi chưa thực sự giã lão, nghĩa là chưa cần tới sự nghỉ ngơi. Một ngày không làm ... dù chỉ làm công việc thanh lọc thân tâm... thì có sống vẫn cầm bằng như đang ôm một xác chết. Mỗi người, ai cũng sẽ bước tới giây phút cuối của thọ mệnh mình, giữ niềm tin nơi thọ mệnh ấy và khi phải bỏ thân thì bỏ thân trong sự sẵn sàng với tâm an vui.”
Ngài đã ra đi đúng như lời nói, nhẹ nhàng và lặng lẽ.
Để tưởng niệm Ngài, Đuốc Tuệ xin kính tặng Giác Linh Ngài một bài thơ với đầu đề NHỚ MỘT NGƯỜI ĐI như sau:
Kẻ lữ hành cô độc
Vừa quãy dép ra đi
Một đời là thi sĩ
HUYỀN KHÔNG chẳng nói gì
Trọn kiếp làm tu sĩ
Thị hiện cõi Ta Bà
Mắt xanh nhìn cuộc thế
Hỏi đường mây trắng qua
Ta Bà là Cực Lạc
Hóa bướm vờn hoa chơi
Viết thơ bằng tích trượng
Mặt trời hóa nụ cười
Người dù đi hay ở
Chẳng có gì tương can
Vũ trụ này vẫn nở
Chẳng không gian thời gian
Nhập Pháp Thân còn đó
Chẳng nhận dạng hình hài
Đâu còn không với có
Cũng chẳng Chấp Liên Đài
Người bước qua cõi mộng
Mộng và thật không hai
Thoát thế gian gió lộng
Hú một tiếng cười dài.
Trời Cali hôm nay bỗng nhiên nổi gió. Gió ở ngoài trời và cả trong lòng người, để cùng tiễn đưa Thiền Sư Mãn Giác. Chúng tôi xin thả dòng tâm của mình theo gió bay đi qua bài thơ GIÓ vừa viết xong để thay lời kết:
Cali trời lộng gió
Khiến cho hoa rụng đầy
Thiền sư nương vào đó
Bay về cuối chân mây
Gió đời là gió nghiệp
Gió thiền tỉnh mê say
Thiền sư đâu thấy có
Nên vỗ một bàn tay
Ô hô trời đẹp nhỉ
Vẫn là nước non này...”
Thiền Sư Mãn Giác ra đi, nhưng hình bóng Ngài còn mãi trong tâm tư những người ở lại...
California ngày 19 tháng 10 năm 2006
MẬT NGHIÊM
Vài Kỷ Niệm
Ngày Gặp HT. Thích Măn Giác
GS Trần Văn Khê
[24.10.2006 13:42]
|
|
|
|
Một ngày hạnh ngộ với Ḥa Thương Thích Măn Giác đă khấc trong ḷng tôi những ấn tượng sâu đậm và những kỷ niệm khó quên. Ḥa thượng Thích Măn Giác và tôi chưa bao giờ gặp nhau nhưng đă từng biết nhau ngang qua những thông tin của giới văn nhân, nghệ sĩ hoặc các bậc tăng ni. Tôi được biết rằng Ḥa thượng không chỉ là một vị cao tăng mà c̣n là một giáo sư lỗi lạc, một nhà thơ đă để lại nhiều bài thơ đầy Thiền vị, một người yêu chuộng văn chương nghệ thuật.
Năm 1995, tôi có dịp sang vùng California đúng mùa Phật đản. Tôi đă từng nói chuyện về những nét đặc thù của cách tán tụng kinh kệ trong truyền thống Phật giáo Việt Nam tại nhiều nơi như chùa Xá Lợi, Thiền viện Vạn Hạnh tại thành phố Hồ Chí Minh, chùa Trúc Lâm tại Villebon bên Pháp, chùa Linh Sơn tại Đài Loan … nên khi nghe tôi đến Cali, Ḥa thượng Thích Măn Giác có thư mời tôi nói chuyện về đề tài trên tại ngôi chùa Việt Nam ở Los Angeles, nơi thầy trụ tŕ. Tôi rất sung sướng có dịp gặp được người mà tôi ngưỡng mộ qua tên tuổi nhưng chưa từng được diện kiến bao giờ. Tôi cũng có phần ngạc nhiên và hơi e ngại v́ biết rằng Los Angeles là một thành phố có nhiều người Việt tị nạn quá khích.
Hôm đó, thầy làm lễ và thuyết pháp từ sáng và đến mười một giờ. Thầy giới thiệu tôi nói chuyện về đề tài tán tụng kinh kệ trong truyền thống Phật giáo. Trong cử toạ, ngoài các Phật tử đến từ Los Angeles, Santa Ana và các thành phố lân cận, c̣n có ông Khai Trí, nhạc sĩ Phạm Duy và những người bạn rất quen thân với tôi. Đây cũng là lần thứ nhứt tôi nghe lời giới thiệu từ một người mới gặp tôi lần đầu mà nước mắt của tôi lưng tṛng, v́ không ngờ rằng người ấy biết rơ việc tôi làm và bằng lời văn chải chuốt đầy chất thơ, Ḥa thượng đă giới thiệu về tôi một cách rất nồng hậu như sau:
“Cuộc gặp gỡ của chúng ta với giáo sư Trần Văn Khê hôm nay là một hạnh ngộ. Chúng ta là những đứa con Việt Nam v́ hoàn cảnh phải sống tại nhiều nơi trên thế giới. Chúng ta thường tự chất vấn không biết văn nghệ nước Việt Nam như thế nào và đang đi về đâu. Th́ hôm nay chúng ta may mắn gặp được một người dẫn đường đáng tin cậy sẽ đưa chúng ta một chuyến về bơi lội bao dung trong biển văn hóa nước nhà. Công tŕnh nghiên cứu của giáo sư Trần Văn Khê đă được thế giới công nhận, chấp nhận và lưu trữ cho thế hệ mai sau. Giáo sư đă dùng ng̣i bút vẽ lại trung thực nền văn hóa đó và bằng tài nghệ biểu diễn tinh vi đă cho cái hồn văn hóa lung linh trên cái xác. Một người nghệ sĩ đă dựng lại một nền văn hóa cả xác lẫn hồn là một người nghệ sĩ đích thực. Hôm nay, chúng ta không chỉ kính trọng một nhà nghiên cứu uyên thâm mà thương quí một người Việt Nam rất Việt Nam là giáo sư Trần Văn Khê.”
Cử tọa vỗ tay tán thưởng. Tôi ngỏ ít lời cám ơn Ḥa thượng và nói lên nỗi xúc động của tôi rồi bắt đầu buổi nói chuyện như thường lệ. Sau đó, tôi có dành nửa giờ cho thính giả đặt câu hỏi và có mấy câu hỏi của cử tọa vô cùng lư thú mà tôi c̣n nhớ măi đến ngày nay:
Một bà cụ tuổi ngoại thất tuần hỏi tôi:
- “ Kinh Phật chúng ta có thể niệm đọc, tại sao lại phải tán tụng ?”.
Tôi trả lời:
- “Trong truyền thống Phật gíao các nước châu Á, “tụng kinh” là đọc lớn lên những câu kinh với những thanh giọng trong lời kinh được cách điệu hóa và phù hợp với năm âm trong âm giai ngũ cung. Mỗi chữ trong câu kinh được đệm theo bằng tiếng mơ và có một cao độ nhất định; chỉ có những chữ thứ bảy trong một câu kinh thất ngôn th́ được đệm hai tiếng mơ. “Tán” có nghĩa là khen. Một bài “tán” thường có nét nhạc đặc thù. Một chữ trong câu kinh có thể tán thành hai, ba giọng khác nhau và giữa các chữ có những chữ đệm, thường là những mẫu âm để làm cho nét nhạc và tiết tấu câu kinh thay đổi. “Tụng” và “tán” không phải để cho người nghe khen ḿnh “tụng” giỏi “tán” hay mà để giúp cho người Phật tử nhờ nét nhạc và nhịp điệu được đi vào một trạng thái tâm hồn b́nh tĩnh và sáng suốt để hiểu rơ nghĩa câu kinh và thấm nhuần giáo lư. Sau đó, tôi minh họa cho bà cụ câu kinh “Dương chi, tịnh thủy” trong bài tán để ca ngợi Đức Phật Bà Quan Âm th́ bà cụ nh́n nhận rằng nếu đọc thường th́ không thể nào bốn chữ “Dương chi, tịnh thủy” thấm vào tâm can của bà bằng cách nghe bốn chữ đó theo lối “tán”.
Ḥa thượng Thích Măn Giác nh́n tôi mỉm cười và gật đầu. Sau câu chuyện, tôi được thụ trai với thầy tại chùa. Thầy rất vui nói với tôi:
- “Giáo sư không phải người Phật tử đi tu nhưng rất rành về các cách tán tụng. Giáo sư lại phân tích rơ ràng những nét đặc thù của tán tụng đến người thường ngày tán tụng như chúng tôi cũng thấy được cái hay và sự công dụng của tán tụng th́ công việc làm đó tôi thấy rất bổ ích cho sự hiểu biết của người Phật tử.”
Tôi cũng có bạch với Ḥa thượng rằng:
- “ Mặc dầu tôi không phải là Phật tử nhưng tôi rất có duyên với đạo Phật. Đề tài nghiên cứu trong đời tôi là âm nhạc truyền thống Việt Nam nói chung. Năm 1965, tôi có được cơ duyên viết một bài về cách tán tụng trong truyền thống Phật gíao Việt Nam để góp mặt với các loại nhạc tôn giáo khác trên thế giới trong quyển Từ điển Bách khoa về Âm nhạc tôn giáo. Sau đó, tôi có dịp sang Nam Triều Tiên (tức là Hàn quốc) và Nhựt Bổn để so sánh cách tán tụng trong truyền thống Việt Nam với phong cách “hissori” và “ chissori” của Triều Tiên và “shomyo” của Nhựt Bổn”.
Ḥa thượng rất vui và nói rằng:
- “ Giáo sư không chỉ nh́n truyền thống tán tụng với đôi mắt Việt Nam mà cả với đôi mắt của con người châu Á so sánh, đối chiếu với truyền thống của nước khác để hiểu và thương thêm truyền thống của nước ḿnh. Thất là điều đáng quí !”
Câu chuyện hôm đó không những đi trong đề tài Phật gíao mà c̣n mở rộng ra đến lănh vực văn chương, thi ca và âm nhạc. Đến nay, tôi c̣n nhớ rơ buổi sáng ngày Phật đản năm 1995 và câu chuyện với Ḥa thượng. Tám ngày sau đó, tôi được nhiều người Phật tử hưởng ứng và mời tôi nói chuyện về đề tài này tại ngôi chùa Liên Hoa cũng toạ lạc trong quận Cam. Nơi này xa đường xe qua lại. Buổi nói chuyện được tổ chức vào tám giờ tối, khí trời mát mẻ. Tâm của tôi và của thính giả đều được ổn định. Tôi đă được dịp giới thiệu bài Nam xuân trong nhạc Tài tử miền Nam với hai cách khác nhau: đờn cho thính giả nghe chơi giải trí và đờn với thiền vị.
Lần gặp gỡ với Ḥa thượng Thích Măn Giác cho tôi được dịp gặp một người mới quen mà hiểu nhau như người đă quen lâu. Buổi nói chuyện tại Los Angelès lại gợi cho tôi thêm nhiều đề tài suy nghĩ về cách tán tụng nhờ những câu hỏi được đặt ra và hôm đó đă gây một ấn tượng sâu sắc trong cuộc đời nghiên cứu của tôi.
Sáng nay, tôi vừa được biết tin Ḥa Thượng mới viên tịch. Tôi ngồi ôn nhớ lại những kỷ niệm ngày đó và xin ghi lại nơi đây thay cho lời hoài niệm của tôi đối với vị cao tăng màtôi kính trọng và ngưỡng mộ, và thương quí như một người tri kỷ, tri âm. Xin nghiêng ḿnh cầu cho giác linh của Ḥa thương mau về nơi Cực lạc.
„Nghe tiếng hoa khai…“
Tưởng niệm Ḥa thượng Thích Măn Giác
20.10.2006
Thái Kim Lan
Sáng 13.10.2006, được tin Thầy Măn Giác viên tịch. Mặc dù đă
biết Thầy mang trọng bệnh, có thể „mất“ đi bất cứ lúc nào, và chuyện sinh tử,
„có, không“ đă như những „đùa bỡn tháng ngày“
[1] đối với vị Thiền sư có giọng nói mềm hiền như mật ấy, nhưng
tin đến vẫn làm giật ḿnh!
Chỉ duy, cùng với nỗi giật ḿnh sững sờ, câu thơ của thi sĩ Huyền Không
[2] bỗng hiện rơ như những tia điện lóe sáng trước mắt, vang động
trong tâm và trong một thoáng, tôi nghĩ, tôi nh́n thấy, cảm nghiệm trực tiếp
được đồng thời vị Thầy, nhà thơ mà tôi chỉ được gặp hai lần trong đời, nhưng câu
thơ từ đó được mang theo:
Ô hay xuân đến bao giờ nhỉ
Nghe tiếng hoa khai, bỗng giật ḿnh!
[3]
Mọi khởi đầu của sáng tạo – cũng như xuân đến, hoa bừng nở – đến từ sự rung động
thể lư ban sơ của trái tim, nơi „cái giật ḿnh“ của nhà thơ là sự bước ra khỏi
tĩnh lặng quán tưởng để nhập cuộc, vào đời.
Khác với nỗi giật ḿnh hoảng hốt của tôi, mà cũng khác với Trần Tế Xương „giật
ḿnh c̣n tưởng tiếng ai gọi đ̣“
[4] trong khoảnh xa ĺa giữa mộng và thực, cũng khác với nàng
Kiều „giật ḿnh, ḿnh lại thương ḿnh xót xa“
[5] trong tủi nhục ê chề giữa hèn mọn phận ḿnh và tàn nhẫn tay
người, cái „giật ḿnh“ của thi sĩ Huyền Không đưa ta vào một chiều kích hiện
sinh trong vũ trụ, được cảm nghiệm như „vũ trụ muôn đời vẫn mới tinh“.
Trong chiều kích hiện sinh MỚI mẻ này, thế giới được tạo lập bằng sự ḥa nhịp
của nhạy cảm thể xác, bằng rung động thể lư trong tiếp xúc với ngoại vật thiên
nhiên, tựa như sự va chạm của hai ḍng điện thần kinh nối mạch, từ đó tất cả
những giây thần kinh của cơ thể con người, của thế giới loài người và những tầng
trời vũ trụ chuyển cùng một điệu ḥa đồng. Mọi đối đăi, phân li, chia cắt,
nghịch lư gây khổ đau giữa ta và người, ta và vũ trụ đều được hàn gắn, vượt qua.
Ở đây không c̣n sau trước giữa „tiếng hoa khai“ và niềm rung động thấy hoa, nghe
hoa; cũng không trước sau giữa ngạc nhiên choàng tỉnh và mùa xuân đă đến tự bao
giờ, mà tất cả đều như xảy ra cùng một lúc trong cái „giật ḿnh“ đầy hạnh ngộ
ấy. Cơn sốc nhẹ như cánh hoa hé nở chính là tiếng nói không lời, bước đi không
tiếng hay „âm vang vô thanh“ của tiếng „vỗ của một bàn tay“ đánh động sự xôn xao
trỗi dậy một thế giới đầy sáng tạo.
„Bỗng giật ḿnh“ diễn tả một biến động thần kinh phi trọng lượng của thể xác ḥa
nhập vào vũ trụ, đột biến như ngôn ngữ vô ngôn mà nhà thơ Măn Giác đă dùng làm
bè để chuyển đến cho chúng ta kinh nghiệm liễu ngộ của Thiền sư Măn Giác về đạo
Phật từ thuở sơ sinh và cũng ngay tại đây, bây giờ:
Sáng nay thức dậy choàng thêm áo
Vũ trụ muôn đời vẫn mới tinh.
Cái đạt của bốn câu thơ – chừng đó cũng đủ cho „ông thầy tu đáng được gọi là thi
sĩ“, như Đại lăo tỳ kheo Thích Trí Quang có lần hóm hỉnh nhận xét (theo lời kể
của chính tác giả) – nằm ngay ở tầng số nhạy cảm của trái tim nhà thơ truyền đến
cho người thế tục để người ấy có thể trực diện khám phá và giác ngộ thể tính
„vạn pháp b́nh đẳng“ hay tính „nhất thể của chân như“ trong chính giờ phút „ô
hay xuân đến“ mà nhà sư Măn Giác suốt cả 58 năm thể nghiệm và thuyết giảng.
Đồng thời chính cái TÂM nhạy cảm ấy tạo nên yếu tính đồng nhất (Identité) hay
bản lai diện mục của nhà sư hay Hoà thượng Măn Giác, hay, khi tất cả nhăn hiệu
rơi xuống, hiển hiện con người, một thực thể (sattva) được ngộ (bodhi) „Măn
Giác“ trong thệ nguyện chúng sinh đều độ khắp: „Tâm và Vật – nếu có thể nói như
vậy – đối với đạo Phật vốn là những ǵ bất tương ly, bất khả ly phân. Và từ đó,
nói đến con người là nói đến toàn diện của nó. Chữ Tâm nằm trong ư nghĩa toàn
diện đó“
[6] .
Trong mọi thể nghiệm, nhà sư biết rơ hơn ai, thật không dễ để nói về „chân như“
mà không đánh mất chính „chân như“ và trở nên vọng ngữ. Dù cho kinh Hoa Nghiêm
có ghi lời Đức Phật: „Chân như vô thỉ, vô chung, vô minh vô thỉ hữu chung“
[7] th́ đó cũng chỉ là những ư niệm trừu tượng và nếu ngược lại
với lời dạy Đức Phật, nếu chúng ta không khởi hành, lên đường, đi…cho hết mọi
nẻo, đến cùng đường „ngôn ngữ đoạn đạo, tâm hành xứ diệt“, qua khỏi mọi bắt đầu
và kết cuộc, vượt trên mê mờ và tỉnh thức đối nghịch, để thấy…bầu trời thật
xanh:
Qua Thiền Môn thấy trời xanh
Kim Cang kinh tụng chân thành từng trang
Khói hương quyện cảnh mơ màng
Không gian là chiếc y vàng quấn thân…
[8]
Với nhà sư Măn Giác, mỗi cuộc đi là một cuộc trở về, trở về bắt kịp giờ phút
„hoa nở“ bằng nhịp đập „tỉnh hồn ngàn xưa“
[9] . Và ngay trong khoảnh khắc ấy, ở đây, bây giờ, trái tim của
Thiền sinh Măn Giác „giật ḿnh“ ngộ lư triết học bát nhă „Đêm qua sân trước một
cành mai“ của Đại thiền sư Măn Giác đời Lư, cách 10 thế kỷ. Một người chỉ cho
thấy cành mai nở, có kẻ giật ḿnh khi hoa khai, hay chẳng có người nào cả, chỉ
có hoa nở và có sự giật ḿnh. Tính b́nh đẳng nhất thể xảy ra trong phút chốc.
Đó là cảm nghiệm mà tôi nhận được, và cám ơn người gửi điện thư báo tin, kẻ đă
nhầm nhà sư Măn Giác „đời nay“
[10] với Măn Giác Thiền sư đời Lư
[11] khi viết thêm cho chúng tôi hai câu của bài thơ „Cáo tật thị
chúng“ truyền tụng cổ kim:
Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết,
Đêm qua sân trước một cành mai
Chính sự nhầm lẫn này lại không lầm, ngược lại nó chỉ cho tôi điều mà nhà sư Măn
Giác thọ nhận, thể nghiệm và truyền đạt từ gia tài văn học Phật giáo Việt Nam,
cái „hồn ngàn xưa“ ấy, rốt cuộc cũng chỉ nằm ở trái tim, ở chữ Tâm, chẳng có một
danh hiệu hay duy ngă nào cả trong gịng chảy trí huệ bát nhă ấy.
Triển khai chữ Tâm trong ḍng đời, nhập cuộc, hành tŕ tu chứng, đánh thức, „kêu
lên một tiếng, tỉnh hồn ngàn xưa“
[12] chính là nỗ lực văn hoá mà nhà sư Măn Giác đă mang trách
nhiệm: „Nếu đời đă là bể khổ như Phật giáo quan niệm, và đất chỉ sanh chông gai,
trái đắng như Thánh kinh nói th́ hiện hữu hẳn là một nỗ lực tiên quyết để thoát
khổ, để canh tác cho đất ươm mầm sống, cho thêm màu mỡ. Nỗ lực ấy chính là văn
hoá và tất cả những thành quả của nỗ lực ấy cũng chính là văn hóa vậy“.
Văn hóa dân tộc là ḍng chảy liên tục trong khoảnh khắc hiện tại, mỗi khoảnh
khắc nỗ lực sáng tạo là một tiếp nối TÂM dân tộc trong tỉnh thức, cho nên: „Nhắc
lại kinh nghiệm Lư, Trần... không có nghĩa là đẩy Việt Nam lùi lại…“mà „chỉ là
để suy nghiệm lại bài học lịch sử, và từ đó rút ra những ưu điểm thường hằng…có
tác dụng dẫn khởi cho việc tựu thành một giải pháp hữu hiệu khả dĩ đưa dân tộc
ra khỏi những quay cuồng sân hận, oán thù, ly tán… Một đường hướng văn hoá hóa
giải. Một đường hướng khả dĩ giúp mọi người Việt Nam thể nghiệm được giá trị
Nhân chủ và ước vọng Dân tộc thâm trầm của ḿnh mà khỏi phải xem đồng loại như
thù nghịch, đồng bào như công cụ“
[13] .
Lời nói đă 32 năm qua, mà ước vọng th́ vẫn trẻ như mới vừa sinh ra. Và cũng trẻ
như nụ cười của nhà sư Măn Giác khi thuyết giảng về văn hoá. Văn hóa là hiện
tượng đơm bông kết trái trên mảnh đất chung của một dân tộc, của cả loài người
cho nên nó phải luôn luôn mới và trẻ. „Mới và trẻ“ trong mỗi giây mỗi phút của
sáng tạo bằng tâm vô quái ngại, không nề hà mà Lục tổ thiền sư Huệ Năng gọi là
„vô niệm“, vị „Tổ“ mà chúng ta tưởng là già, nhưng lại trẻ măng. Đó là điều mà
nhà sư Măn Giác khám phá và nhấn mạnh:
„… mỗi khi ta nhắc đến ngài Huệ Năng th́ lập tức chúng ta h́nh dung rằng ngài có
h́nh dáng một cụ Ḥa thượng già nua… Chúng ta thường h́nh dung nét mặt của ngài
Huệ Năng là nét mặt hiền hậu của một cụ già, nhưng chúng ta đă quên rằng Huệ
Năng đă từng rất trẻ, và chính tuổi trẻ của Huệ Năng quyết định hết tất cả sự
nghiệp tâm linh vĩ đại của Huệ Năng…“
[14] „Ngay ở Việt Nam ngày nay, cũng không thấy một thanh niên
trẻ măng mới đến chùa xin đi tu mà dám cả gan đối đáp như vậy với một vị Ḥa
thượng nổi tiếng (như Hoằng Nhẫn), huống chi đây là một thanh niên ngoại quốc ở
vùng nhược tiểu “man rợ” mà dám đối đáp với Đại lăo Ḥa thượng đại cường quốc
thống trị Trung Hoa thịnh Đường như vậy; Hoằng Nhẫn giả vờ hỏi một câu chê trách
về nguồn gốc Việt Nam của Huệ Năng th́ Huệ Năng trả đũa ngay lập tức như một kẻ
đă chứng ngộ rồi mới dám khẳng định rằng: “Con người tuy có Tàu có Việt, tuy
thân mọi rợ này không giống với thân Ḥa thượng, nhưng Phật tánh trong Ḥa
thượng và trong tôi chẳng có ǵ là sai biệt”.
[15]
Trong tinh thần „làm trẻ Huệ Năng“, mỗi cuộc trở về với gia tài văn hóa Phật
giáo đối với nhà sư Măn Giác là một cuộc làm trẻ lại mảnh đất trí tuệ trong tinh
thần „Phật tánh không sai biệt“, đốn ngộ của Huệ Năng.
Nhưng trong „vũ trụ muôn đời vẫn mới tinh“ ấy, vẫn ẩn hiện một quê hương cho ngũ
uẩn „Măn Giác“:
Thân ta là giải đất bằng
Tâm ta là nước sông Hằng mênh mông
T́nh ta là đóa hoa hồng
Ư ta là cả cánh đồng tâm linh…
Bởi v́ ngũ uẩn cũng chính là quê hương cho những ai đă lên đường, đi t́m hay đi
xa, truy tầm hay chạy trốn, cho những ai đă từng trải qua băo táp, sóng dồn nơi
tha hương, cho những ai lênh đênh phương trời, không c̣n đạp chân trên mảnh đất
ḿnh sinh ra:
„Dù bất cứ chúng ta lưu lạc ở phương trời nào, mỗi khi chúng ta không quên được
tiếng nói của quê hương, tiếng nói suối nguồn trong khiết của đạo lư, th́
“chính thân thể ḿnh là quê hương” như ngài Huệ Năng đă nói, và dù có ai đă
đem vô minh đen tối đến cho quê hương và đạo pháp, nhưng chơn lư vẫn luôn luôn
chiến thắng như ngài Huệ Năng đă nhắn lại với chúng ta: “Cũng như một ngọn đèn
có thể trừ được một ngàn năm bóng tối th́ một ánh sáng của trí tuệ cũng có thể
diệt được một vạn năm ngu si đen tối”.
[16]
Tôi đă được chứng kiến hiện trạng „thân thế ḿnh là quê hương“ ấy ở chùa Việt
Nam tại Cali khi gặp Thầy lần đầu. Nụ cười trẻ trên gương mặt lăo bệnh nhưng tỏa
sáng trí tuệ, b́nh an tự tại trong mọi tất bật mà một vị sư có thể nhẫn nại cho
ḿnh: không chỉ là vị tu sĩ, thầy giảng, thiền sư (Zenmaster như Phật tử người
Mỹ gọi), mà c̣n là cha, mẹ, anh, em, bằng hữu và… Bồ tát hay là Phật nữa. Trong
căn pḥng đơn sơ của mái chùa Việt Nam ở Los Angeles, cuộc đàm đạo với Thầy
thường được xen lẫn với những lễ nghi qú lạy xưng tụng của đủ hạng tín hữu.
Suốt buổi diện kiến, một Phật tử mới qui y qú cung kính bên chân thầy, dâng
trà, dâng cơm ngay cả trong lúc thọ trai. Và có ai ngạc nhiên hơn tôi, khi chưa
nuốt trôi được tô bún chay nhạt nhẽo, bỗng thấy Thầy đứng lên, chân c̣n khập
khiễng sau một cơn tai biến, đi vào bếp. Tôi bỏ đũa đi theo th́ thấy, chính nhà
sư vừa được qú lạy như Phật sống ấy đang nhen lửa, bắc chảo, cắt các loại su,
để xào cho chúng tôi một dĩa bún chay tuyệt vời. Thật là: „Lạ lùng thay! trong
khoảng thời gian bằng một bữa ăn mà thấy đủ công việc làm trong nhiều năm…“
[17]
Ấy cũng bởi nhà sư đă nắm được yếu quyết đi vào Nhất Tâm: „Đúng ra, toàn diện
con người cũng chính là toàn diện của vạn pháp“ hay „Vạn pháp duy Nhất tâm“.
Điểm đạt đạo thơ của thi sĩ Huyền Không, hay quả tu chứng đạt đạo của nhà sư Măn
Giác nằm trong thực chứng „Nhất Tâm“ khi tổng hợp được trái tim Việt Nam với
trái tim vô ngă của Đức Phật trong khoảnh khắc „hoa nở“. Cành mai mà (Đại sư)
Măn Giác trao lại cho (Thiền sư) Măn Giác chính là cành sen mà Đức Phật Gotama
đă giữ trong tay với nụ cười yên lặng, khoảnh khắc duy nhất của Vô Sanh:
Hoa nở thấy Phật chứng vô sanh
Bồ tát La hán là bạn hữu
Có lẽ trong cơi bất sanh bất diệt ấy, nếu thiền sư Măn Giác đạt đạo vô ngôn:
C̣n đâu nữa Kim cang kinh
Thiền môn biến mất mà ḿnh vô ngôn
Th́ nhà thơ Huyền Không sẽ lên tiếng, vẽ trên bầu trời xanh một bóng người:
Ta từ sinh tử về chơi
Ngồi trên đỉnh núi mỉm cười với trăng
Và cả hai „bỗng giật ḿnh“ NHƯ THẬT!
Nam mô Bổn sư
Thích Ca Mâu Ni Phật
Với tâm thành kính dâng Thầy
Phật tử Thái Kim Lan kính bái
[1]Huyền
Không, Thơ: Đạt đạo.
[2]Huyền Không: biệt hiệu thi sĩ của Hoà Thượng Thích Măn Giác
[3]Thích Măn Giác, thơ: „Nghe tiếng hoa khai bỗng giật ḿnh“,
được chính tác giả đọc cho nghe.
[4]Trần Tế Xương, thơ:
Sông kia rày đă nên đồng,
Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai
Đêm nghe tiếng ếch bên tai,
Giật ḿnh c̣n tưởng tiếng ai gọi đ̣.
[5]Nguyễn Du, Đoạn trường tân thanh, thơ:
Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh,
Giật ḿnh, ḿnh lại thương ḿnh xót xa
[6]Thích
Măn Giác, „Ư niệm về chân như“, tập san Tư tưởng 2&3, Viện Đại học Vạn Hạnh, Sài
G̣n, 1968
[7]như trên 4
[8]Huyền Không, thơ.
[9]Huyền Không, thơ
[10]Chữ của
Trần Kiêm Đoàn
[11]Măn Giác Thiền sư, đời Lư, thế kỷ 12.
[12]Huyền Không, thơ: „kêu lên một tiếng, tĩnh hồn ngàn xưa“
[13]Thượng tọa Thích Măn Giác, Diễn văn khai mạc của Thượng tọa
tổng vụ trưởng Tổng vụ Văn hoá , đọc ngày 22. 12. 1974, in lại trong Hải Triều
Âm, tam nguyệt san, số đặc biệt 9&10, chủ nhiệm kiêm chủ bút: T.T. Thích Măn
Giác.
[14]Pháp Bảo Đàn kinh, Đôn hoàng bản, Lục tổ Huệ Năng, Hoà Thượng
Thích Măn Giác dịch Việt , lời đầu sách.
[15]Đă dẫn
[16]Thích Măn Giác, Pháp Bảo Đàn kinh, đă dẫn.
[17]Thích Măn Giác, „Ư niệm về chân như“, tập san Tư tưởng- Viện
Đại học Vạn Hạnh. 2&3, Sài G̣n 1968, (trích Đại thừa khởi tín luận, Thích Trí
Quang dịch, trang 108, 110, 111)
“Mái chùa
che chở
hồn
dân tộc…
Đêm
qua sân trước
một
cành mai”
Trần Kiêm Đoàn
Sáng nay, thứ Sáu 13-10-2006, chị Thái Kim Lan từ Đức báo tin thầy Thích Măn Giác vừa viên tịch tại Los Angeles, tiểu bang California, Mỹ.
Tôi ở cách Thầy – Chùa Việt Nam – có một giờ bay hay 6 giờ lái xe mà biết tin c̣n chậm hơn người ở bên kia bờ Đại Tây Dương. Cũng thế, trong trận băo Xiangsane vừa qua, tôi ở Mỹ mà đóng vai người thông tin diễn tiến trận thiên tai cho thân nhân và bạn bè ở Sài G̣n. Có lẽ khoảng cách thế giới trong thời đại mới này phải đo bằng chiều sâu của tấm ḷng hơn là chiều rộng của không gian và chiều dài của thời gian mới chính xác chăng?
Không gian và thời gian tâm lư không phải là một phép lạ biến đổi hoàn cảnh, nhưng nó giúp cho những con người “có duyên” gặp lại nhau trong từng khoảng cách dài bằng nửa đời người mà tưởng chừng như mới hôm qua. Sự gặp gỡ của những tâm hồn đồng điệu, mang dấu ấn tâm linh có khi cách nhau hàng chục thế kỷ mà vẫn gần nhau trong gang tấc hay có khi gặp nhau một cách t́nh cờ giữa cuộc đời vắng lặng. Có hai thiền sư Măn Giác. Một thiền sư Măn Giác đời Lư (1052-1096) và một thiền sư Măn Giác đời nay (1927-2006) đă gặp nhau trong thi ca: “Mái chùa che chở hồn dân tộc…” hay “Đêm qua sân trước một cành mai…” cách nhau đến cả ngh́n năm mà vẫn cùng nh́n thấy cái thường hằng rỗng lặng và hư ảo của cành mai sân trước hiên chùa. Một cách vô h́nh chung, tôi vẫn thường nghĩ đến những vần thơ Huyền Không (thi bút hiệu của thầy Thích Măn Giác đời nay) một cách nhẹ nhàng và sương khói như thế.
Năm 1967, lần đầu tôi được gặp thầy Măn Giác trong lớp triết học Đông phương ở Mô-Ranh, trường đại học Văn khoa Huế thời ấy. Ngày đó, Thầy là một giáo sư thỉnh giảng c̣n quá trẻ, mới tốt nghiệp ở Nhật Bản về. Trong chiếc áo tu sĩ màu nâu, Thầy có một dáng dấp rất tươi mát và thanh thoát. Nhất là nụ cười lúc nào cũng mở rộng. Thầy cười không chỉ bằng miệng mà bằng cả đôi mắt và dáng vẻ nhẹ nhàng, phóng khoáng. Thầy giảng về triết học Ấn Độ, Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam và nhấn mạnh về sự tương quan của các nguồn triết học Đông phương trong bối cảnh triết học Phật giáo. Với kiến thức phong phú của một nhà nghiên cứu, một nhà Phật học và khả năng đa dạng về ngoại ngữ như Hán, Phạn, Pháp, Anh, Nhật… Thầy Măn Giác thường biến những buổi học thành những buổi thuyết tŕnh chuyên đề của một học giả có thẩm quyền chuyên biệt làm cho sinh viên thích thú và kính trọng.
Năm 1976, tôi gặp lại Thầy tại chùa Xá Lợi ở Sài G̣n trong ngày Phật Đản khi Thầy đang tiếp phái đoàn Phật tử Huế do Mặt trận Tổ quốc B́nh Trị Thiên gởi vào. Thầy có vẻ nghiêm nghị và đăm chiêu hơn qua giọng nói và thái độ dè dặt cẩn trọng hiện lên rất rơ trong hàng chư tăng ni hiện diện trước tiền đ́nh chùa Xá Lợi.
Và một buổi tối ngày 27 tháng 12 năm 2003, tôi gặp Thầy lần cuối cùng tại chùa Kim Quang, Sacramento. Về mặt thể lực, Thầy có vẻ yếu, đi phải có người theo bên cạnh. Thế nhưng Thầy cững đă bay từ miến Nam California lên miền Bắc để tham dự nhân dịp chùa làm lễ đặt đá xây dựng lại ngôi chùa mới trên khu đất của ngôi chùa cũ đang đổ nát v́ thời gian. Đêm hội ngộ, vẫn với nụ cười thanh thoát của một nhà thơ, Thầy đọc và ngâm thơ. Tôi không c̣n nhớ rơ nguyên văn bài thơ, nhưng nhớ đó là một bài thơ về quê hương. Bài thơ do Thầy sáng tác nói đến nỗi xúc động giữa quê nghèo với mái tranh, với liếp cửa mỏng manh không chắn nổi ngọn gió lạnh mùa Đông. Thầy vừa đọc vừa kéo dài cuối câu thơ ra như ngâm. Giọng nói trầm ấm của Thầy thuở đứng trên bục giảng 40 năm trước không c̣n nữa. Nhưng sự xúc động lại dâng trào. Miệng Thầy vẫn cười nhưng thỉnh thoảng vẫn đưa chiếc khăn nhỏ lên chùi mắt…
Mỗi lần gặp lại Thầy, cách nhau cả 10 năm, 30 năm nhưng sao tôi vẫn thấy gần nhau quá, như mới hôm qua.
Khi sắp từ biệt Thầy, tôi nhắc lại những kỷ niệm cũ của thời c̣n học với Thầy ở đại học Văn khoa Huế làm Thầy cười sảng khoái. Tôi kể lại và hỏi Thầy c̣n nhớ không, Thầy gật đầu. Đó là buổi sáng khi linh mục Nguyễn Ngọc Lan (giáo sư thỉnh giảng dạy về lịch sử triết học Tây phương) chở Thầy từ cư xá giáo sư Viện Đại học Huế gần Ga Huế xuống đại học Văn khoa. Bọn con nít thấy một h́nh ảnh “đoàn kết tôn giáo” rất ngộ đă chạy theo reo ḥ:
“Ê, tụi bây ơi! Coi tề. Cha chở Thầy! Cha chở Thầy!”
Trong câu chuyện, thầy cũng nhắc lại lịch sử “thăng trầm” của hai câu thơ:
Mái chùa che chở hồn dân tộc,
Giềng mối muôn đời của tổ tông.
Tôi đă nói đùa với Thầy:
“Trong hai câu đó, con chỉ thích câu đầu v́ mỗi Măn Giác thiền sư chỉ có một câu thơ tuyệt tác.”
Ư tôi muốn nói đến bài “Xuân đi, Xuân đến” của Măn Giác Thiền sư đời Lư.
Thầy hỏi:
“Măn Giác kia câu chi?”
Tôi thưa:
“Bạch Thầy: Đêm qua sân trước một cành mai…”
Thầy lại cười rộng lượng:
“Mái chùa che chở hồn dân tộc… Hôm qua sân trước một cành mai. Ngộ hỉ.”
Tôi đợi chờ lời Thầy phê về sự liên tưởng và so sánh (rất có thể) khập khiểng của tôi, nhưng Thầy chỉ nở nụ cười ấm áp và nói: “Ngộ hỉ”.
Có thể nói không riêng tôi mà tất cả mọi người biết và gần thầy Thích Măn Giác từ khi thầy c̣n trẻ cho đến bây giờ đều hưởng được bầu không khí tươi mát của một phong thái bao dung và một tinh thần không bao giờ chấp nhặt những chuyện bé nhỏ. Nhờ đức độ của Thầy như thế nên chùa Việt Nam nổi tiếng là nơi bảo lănh, hỗ trợ và cũng là trạm dừng chân đầu tiên đông đảo nhất cho quư tăng ni từ xa mới đến Mỹ.
Tin hoà thượng Thích Măn Giác vừa viên tịch không làm ai ngạc nhiên v́ tuổi tác đă cao và t́nh trạng thể lực ngày một yếu của Thầy. Nhưng tất cả mọi người, Phật tử cũng như thân hữu, đều cảm thấy có một sự mất mát rất lớn v́ sự vắng bóng của Thầy. Thầy đă sống một cuộc đời thật trọn vẹn. Một đời tu sĩ cho Đạo; một nghệ sĩ thi ca văn bút cho Đạo, cho Đời; một sự dấn thân cụ thể để bảo tồn và phát huy những giá trị tri thức và tâm linh cao quư giữa chốn bụi trần. Một đời Thầy tu hành trong tinh thần “tự giác, giác tha, giác hạnh, viên măn” với phong thái khoan ḥa đĩnh đạc của một thiện tri thức và sự hành xử công minh, vô úy v́ đạo v́ đời của một danh tăng qua những năm tháng thăng trầm nhất trong lịch sử dân tộc và đạo pháp.
Hướng về hoà thượng Thích Măn Giác, phần đông Phật tử và thân hữu cũng giống như tôi. Chúng tôi t́m thấy ở Thầy một sự kết hợp hài ḥa giữa tinh thần tu sĩ, nghệ sĩ và kẻ sĩ. Tinh thần tu sĩ để hành đạo giải thoát; tinh thần nghệ sĩ để cảm thông với cuộc đời; và tinh thần kẻ sĩ để dấn thân vào đời mà hóa đạo giúp đời.
Văn phẩm mới nhất của Thầy mà tôi được đọc là bài tham luận gửi đến cuộc Hội thảo Phật giáo năm 2006, nhan đề:“Thư ngỏ của Sa môn Thích Măn Giác gửi chư vị tham dự khóa hội thảo Cơ duyên và Thử thách của Phật giáo thế giới và Phật giáo Việt Nam”. Trong thư Thầy đă viết về tinh thần nhập thế cần thiết của người Phật tử:
“Kiên tŕ và tinh tấn bám sát con đường Đấng Từ Phụ đă đi. Qua những thời kinh nhật tụng, chúng ta thường chỉ thấy Phật ngồi Phật nằm mà quên rằng, gần nửa thế kỷ trụ thế, Phật là một kẻ lữ hành, luôn luôn lên đường. Phật đích thân đến với quần chúng chứ không ngồi đợi quần chúng t́m đến Phật. Phật t́m đến quần chúng để được quần chúng bố thí thức ăn quần áo thuốc thang, và để tạo cơ duyên cho Phật và thánh chúng bố thí giáo pháp lại cho quần chúng. Nhờ tinh thần có qua có lại tiên khởi đó mà đạo tràng chùa chiền tự viện mới không trở thành những hải đảo xa lánh hồng trần và các Trưởng Tử Như Lai không hành xử như những chủ quán, ngồi một chỗ chờ khách hàng tới để thù tiếp mà kiếm lợi, hay như những người lính đứng trong pháo đài lâu lâu lại kêu lên Pháp Nạn! Pháp Nạn! Đó là bài học đầu tiên chúng ta cần suy gẫm để rút tỉa hệ luận cho Phật sự.”
Phải chăng đây là một lời nhắn nhủ thiết tha của Thầy đối với những người c̣n ở lại trước ngày từ biệt?
Dấu ấn của một nghệ sĩ là tác phẩm. Dấu ấn của một vị chân tu là tấm gương soi cho thế hệ kế thừa.
Hoà thượng Thích Măn Giác đă viên tịch nhưng những dấu ấn từ bi, trí tuệ và dũng mănh của Thầy vẫn c̣n thắp sáng niềm tin cho thế hệ hôm nay và mai sau.
Là một người học tṛ cũ, con xin lắng ḷng tưởng niệm Thầy.
Là một Phật tử, con xin cung bái Giác Linh Thầy một tâm thức hoàn toàn tự do và giải thoát, xả bỏ báo thân, an nhiên trở về miền an lạc.
Kính bái biệt Thầy!
Sacramento
14-10-2006
Trần Kiêm Đoàn
TƯỞNG NHỚ THẦY HUYỀN KHÔNG THÍCH MĂN GIÁC
LƯ KHÔI VIỆT
Kính thưa Thầy,
I/ Chúng con đang tưởng nhớ đến Thầy như tưởng nhớ một vị tướng quân của nền văn hóa dân tộc. Là một nhà trí thức, một kẻ sĩ thời đại, Thầy đă cống hiến cả cuộc đời để bảo vệ, phát huy văn hóa dân tộc, và để đối thọai với những tư trào văn hóa ngoại lai, hữu thần cũng như vô thần, đến từ phương Tây. Đẹp như h́nh ảnh của thi hào Nguyễn Du "trường kiếm quẫy thu phong", Thầy đă vung thanh kiếm dài trên trận địa văn hóa, giáo dục, một cách thông thái, tài hoa, và đôi khi dí dỏm. Một vị tướng trấn giữ biên cương là một nhiệm vụ quan trọng, nhưng một vị tướng bảo vệ bờ cơi văn hóa dân tộc, bảo vệ bầu trời tâm linh, tinh thần của dân tộc lại càng quan trọng hơn, v́ mất văn hóa là mất tất cả. Những tác phẩm Thầy đă viết ra là những di sản văn hóa quư giá để lại cho những thế hệ con cháu hôm nay và ngày sau.
II/ Chúng con đang tưởng nhớ đến Thầy như tưởng nhớ một vị tướng quân của chánh pháp. Tướng quân của chánh pháp, đó là lời Đức Phật vĩ đại đă gọi vị đệ tử siêu việt nhất của ḿnh về giáo pháp, Ngài Xá Lợi Phất. Từ khi c̣n rất trẻ, Thầy đă thành công trong việc hoằng pháp và đoàn ngũ hóa Phật tử vùng Cao Nguyên Trung Phần, cũng như trong việc truyền bá Phật Pháp cho giới trí thức, chuyên viên, thanh niên sinh viên, là những phần tử rường cột của quốc gia xă hội.
Có thể nói Thầy là vị thầy gần gũi nhất, thân t́nh nhất, đáng yêu nhất, được thương mến nhất của hàng Phật tử tại gia chúng con. Tuy là khoa trưởng của phân hoa Phật học của Đại Học Vạn Hạnh thân thương ngày nào, nhưng điểm đặc sắc là thầy đă đến với chúng con không phải bằng sự phô diễn kinh điển, giáo lư mà bằng cái tâm, cái t́nh chân thành đối với nhau, và đối với dân tộc và đạo pháp. Thầy đă rất thành công trong việc truyền đạo, giữ đạo bằng sách lược "công tâm", đánh vào ḷng người.
Đạo Phật đă được Thầy mang đến, giới thiệu, trao tặng cho chúng con, hàng ngàn, hàng vạn Phật tử tại gia, bằng h́nh ảnh hiền ḥa, từ ái, thân thiện, bằng nụ cười tươi mát, đôn hậu, bằng những lời thăm hỏi chân thật, thân t́nh, bằng những tâm sự thiết tha về quê hương và đạo pháp, vừa như thầy tṛ, vừa như kẻ tri âm tri kỷ, đồng tâm đồng đạo.
Học hỏi, tu tập, bảo vệ và truyền bá Phật Pháp, đó là
những hành động yêu nước căn bản nhất, quan trọng nhất, để hoàn thành sứ mạng văn hóa thời đại tối thượng của người Phật Tử Việt hiện nay, đó là tiếp nối tổ tiên suốt 2.000 năm qua, duy tŕ phát huy đạo Phật để đạo Phật tiếp tục là tôn giáo lớn của Việt Nam, là suối nguồn tâm linh sâu đậm nhất của Việt Nam, là quốc đạo của dân tộc.
Trong kỷ nguyên toàn cầu hóa ngày nay, với rất nhiều cơ hội và cũng với rất nhiều thử thách, tất cả Tăng Ni, Phật tử trong nước cũng như ngoài nước phải là những chiến sĩ chánh pháp, xả thân sống chết v́ đạo, coi sự hưng thịnh của dân tộc và đạo pháp quan trọng hơn sự sống chết của bản thân, th́ may ra chúng ta mới ǵn giữ được, tiếp nối được, thực hiện được những ǵ mà cha ông chúng ta đă làm trong suốt hơn 20 thế kỷ vừa qua.
III/ Chúng con đang tưởng nhớ đến Thầy như tưởng nhớ đến một vị tướng quân của cuộc vận động cho nhân quyền và tự do tôn giáo ở Việt Nam. Thầy là người Việt đầu tiên đă mạnh mẽ gióng lên tiếng chuông nhân quyền và tự do tôn giáo cho Việt Nam trước công luận thế giới và trước các cơ quan truyền thông, các diễn đàn, tổ chức quốc tế và với các chính quyền trên thế giới.
Ngay từ năm 1978, nghĩa là 29 năm trước đây, Thầy là người Việt đầu tiên, với sự bảo trợ của tổ chức Ân Xá Quốc Tế, đi du thuyết khắp Âu Châu đểnói lên thực trạng đau khổ, bị bức hại của Tăng Ni, Phật tử tại Việt Nam. Thầy cũng đă từng vận động sâu rộng ở Nhật Bản, ở Liên Hiệp Quốc, và ở Hoa Kỳ, từ năm 1978 đến nay, không ngừng nghỉ, suốt gần ba thập niên qua, bền bỉ, kiên tŕ lên tiếng vận động cho nhân quyền và tự do tôn giáo tại Việt Nam. Và đặc biệt thầy cũng là người đầu tiên nói rằng cuộc vận động này phải được tiến hành một cách ôn ḥa, bất bạo động., không hận thù. Thầy đă hành động, tất cả chỉ v́ ḷng yêu nước thiết tha và ḷng từ bi vô lượng đối với đồng bào, với tha nhân, dứt khoát không có một chút mưu đồ riêng tư nào, tham vọng nào, và tuyệt đối không có một chút hận thù nào với bất cứ ai. Bởi v́ Phật giáo không có kẻ thù. "Phật giáo chỉ có những người bạn đă thông cảm và những người bạn chưa thông cảm"mà thôi, như thiền sư Thanh Từ đă từng nói.
Nhớ lại giai đoạn 1977,78,79,80, đất nước thật tang thương, nghiệp ngă, đồng bào như bầy kiến bị nướng trên chảo nóng, chạy tứ tán bốn phương trong vô vọỉng, thời đó người Việt ḿnh ở Hoa Kỳ c̣n ít, c̣n yếu và c̣n nghèo lắm, trên thế giới không có mấy người quan tâm đến Việt Nam, thế nhưng Thầy vẫn lên tiếng, vẫn hy vọng, vẫn hào hùng đấu tranh, trong cô đơn, lẻ loi, giữa muôn ngàn gian nan, khó khăn, thật đáng thương lắm và cũng rất đáng tự hào.
Nước Việt Nam tự do dân chủ ngày mai phải ghi nhớ rằng người đầu tiên cất cao tiếng kêu thống thiết trước thế giới, và được thế giới lắng nghe, về sự vi phạm các quyền làm người của nhân dân Việt Nam, chính là một ông thầy tu hiền ḥa, chính làThầy Thích Măn Giác, một nhà văn