In Memoriam of Master Thích Măn Giác

(1929-2007)

Home

BÍCH NHAM LỤC
(MỘT TRĂM CÔNG ÁN THIỀN TÔNG)
 Thích Măn Giác dịch
Chùa Việt Nam Trung Tâm Văn Hoá Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ 1988

MỤC LỤC

Vài nét về dịch giả
Lời Giới Thiệu
Phần 1
Tắc thứ Nhứt: Cái Trống Không Của Đạt Ma
Tắc thứ Nh́: Đạo Vô Nan Của Triệu Châu
Tắc thứ Ba:Mă Sư Bất An
Tắc thứ Tư: Đức Sơn Mang Bao Hành Trang
Tắc thứ Năm: Hạt Gạo Của Tuyết Phong
Tắc thứ Sáu: Một Ngày Đẹp Của Vân Môn
Tắc thứ Bảy: Huệ Siêu Hỏi Về Phật
Tắc thứ Tám: Thúy Nham Dạy Đồ Chúng Cuối Hạ
Tắc thứ Chín: Bốn Cửa Của Triệu Châu
Tắc thứ Mười: Ba Tiếng Hét Của Mục Châu
Phần 2
Tắc thứ Mười Một: Kẻ Uống Cặn Rượu Của Hoàng Bá
Tắc thứ Mười Hai: Ba Cân Gai Của Động Sơn
Tắc thứ Mười Ba:Chén Bạc Của Ba Lăng
Tắc thứ Mười Bốn: Một Lời Đúng Của Vân Môn 
Tắc thứ Mười Lăm:Một Câu Nói Ngược Của Vân Môn
Tắc thứ Mười Sáu: Người Trong Cỏ Của Kính Thanh
Tắc thứ Mười Bảy: Hương Lâm Ngồi Lâu
Tắc thứ Mười Tám: Túc Tông Thỉnh Pháp
Tắc thứ Mười Chín: Ngón Tay Thiên Của Câu Chi
Tắc thứ Hai Mươi: Long Nha và Ư Của Tổ Sư Từ Tây Thiên Qua
Phần 3
Tắc thứ Hai Mươi Mốt: Hoa Sen Của Trí Môn
Tắc thứ Hai Mươi Hai: Con Rắn Mũi Rùa Của Tuyết Phong
Tắc thứ Hai Mươi Ba: Diệu Phong Đỉnh Của Bảo Phúc
Tắc thứ Hai Mươi Bốn: Qui Sơn Và Lưu Thiết Ma
Tắc thứ Hai Mươi Lăm: Liên Hoa  Trụ Trượng
Tắc thứ Hai Mươi Sáu: Bác Trượng Ngồi Một Ḿnh Trên Đỉnh Đại Hùng
Tắc thứ Hai Mươi Bảy: Thể Lộ Kim Phong Của Vân Môn
Tắc thứ Hai Mươi Tám: Chư Thánh Của Niết Bàn Ḥa Thượng
Tắc thứ Hai Mươi Chín: Hỏa Kiếp Của Đại Tùy
Tắc thứ Ba Mươi: Củ Cải Của Triệu Châu
Phần 4
Tắc thứ Ba Mươi Mốt: Ma Cốc Chống Gậy
Tắc thứ Ba Mươi Hai: Phật Pháp Đại Ư Của Lâm Tế
Tắc thứ Ba Mươi Ba: Trần Thượng Thư Viếng Từ Phúc
Tắc thứ Ba Mươi Bốn: Ngưỡng Sơn Hỏi Từ Đâu Đến
Tắc thứ Ba Mươi Lăm: Văn Thù và Vô Trước
Tắc thứ Ba Mươi Sáu: Trường Sa Một Hôm Đi Chơi Núi
Tắc thứ Ba Mươi Bảy: Tam Giới Vô Pháp Của Bản Sơn
Tắc thứ Ba Mươi Tám: Trâu Sắt Của Phong Huyệt
Tắc thứ Ba Mươi Chín: Kim Mao Sư Tử Của Vân Môn
Tắc thứ Bốn Mươi: “Giống Như Mộng” Của Nam Tuyền
Phần 5
Tắc thứ Bốn Mươi Mốt: Người Chết Lớn Của Triệu Châu
Tắc thứ Bốn Mươi Hai:Từng Phiến Tuyết Của Bàng Cư Sĩ
Tắc thứ Bốn Mươi Ba: Không Nóng Không Lạnh Của Động Sơn
Tắc thứ Bốn Mươi Bốn: Ḥa Sơn Biết Đánh Trống
Tắc thứ Bốn Mươi Lăm: Vạn Pháp Qui Nhất Của Triệu Châu
Tắc thứ Bốn Mươi Sáu: Tiếng Mưa Rơi Của Kính Thanh
Tắc thứ Bốn Mươi Bảy: Sáu Không Thu Của Vân Môn
Tắc thứ Bốn Mươi Tám: Vương Thái Phó Nấu Trà 
Tắc thứ Bốn Mươi Chín: Tam Thánh Lấy Ǵ Để Ăn
Tắc thứ Năm Mươi: Trần Trần Tam Muội Của Vân Môn
Phần 6
Tắc thứ Năm Mươi Mốt: “Cái Ǵ Đây” Của Tuyết Phong
Tắc thứ Năm Mươi Hai: Cầu Đá Của Triệu Châu
Tắc thứ Năm Mươi Ba: Vịt Trời Của Mă Đại Sư
Tắc thứ Năm Mươi Bốn: “ Mới Ở Đâu Tới” Của Vân Môn
Tắc thứ Năm Mươi Lăm: Đạo Ngô Và Tiệm Nguyên Đi Điếu Tang
Tắc thứ Năm Mươi Sáu: Một Mũi Tên Phá Ba Ải Của Vân Môn
Tắc thứ Năm Mươi Bảy: Chí Đạo Vô Nam Của Triệu Châu
Tắc thứ Năm Mươi Tám: Triệu Châu Và Khuôn Sáo Thời Thượng
Tắc thứ Năm Mươi Chín: Triệu Châu Và Đừng So Đo
Tắc thứ Sáu Mươi: Cây Gậy Của Vân Môn
Phần 7
Tắc thứ Sáu Mươi Mốt: Một Hạt Bụi Của Phong Huyệt
Tắc thứ Sáu Mươi Hai: Viên Ngọc Của Vân Môn
Tắc thứ Sáu Mươi Ba: Nam Tuyền Giết Mèo
Tắc thứ Sáu Mươi Bốn: Nam Tuyền Hỏi Triệu Châu
Tắc thứ Sáu Mươi Lăm: Ngoại Đạo Hỏi Phật Về Hữu Vô
Tắc thứ Sáu Mươi Sáu: Nham Đầu Và “Từ Đâu Tới”
Tắc thứ Sáu Mươi Bảy: Lương Vũ Đế Mời Giảng Kinh
Tắc thứ Sáu Mươi Tám: Ngưỡng Sơn Hỏi Tam Thánh
Tắc thứ Sáu Mươi Chín: Nam Tuyền Bái Trung Quốc Sư
Tắc thứ Bảy Mươi :Qui Sơn Đứng Hầu Bách Trượng
Phần 8
Tắc thứ Bảy Mươi Mốt: Bách Trượng Và không Với Cổ Họng Với Miệng Môi
Tắc thứ Bảy Mươi Hai: Bách Trượng Hỏi Vân Nham
Tắc thứ Bảy Mươi Ba: Tứ Cú Bách Phi Của Mă Đại Sư
Tắc thứ Bảy Mươi Bốn: Kim Ngưu Ḥa Thượng Cười Ha Ha
Tắc thứ Bảy Mươi Lăm: Ô Cữu Hỏi Pháp Đạo
Tắc thứ Bảy Mươi Sáu: Đan Hà Hỏi Từ Đâu Tới
Tắc thứ Bảy Mươi Bảy: Bánh Của Vân Môn
Tắc thứ Bảy Mươi Tám:Mười Sáu Bồ Tát Đi Tắm
Tắc thứ Bảy Mươi Chín:Tất Cả Các Âm Thanh Của Đầu Tử
Tắc thứ Tám Mươi: Hài Từ Thức Của Triệu Châu
Phần 9
Tắc thứ Tám Mươi Mốt:Dược Sơn Bắn Nai
Tắc thứ Tám Mươi Hai: Kiên Cố Pháp Thân Của Đại Long
Tắc thứ Tám Mươi Ba: Cổ Phật Và Cột Trụ Của Vân Môn 
Tắc thứ Tám Mươi Bốn: Bất Nhị Pháp Môn Của Duy Ma cật
Tắc thứ Tám Mươi Lăm:Con Cọp Của Đồng Phong Am Chủ
Tắc thứ Tám Mươi Sáu: Quang Minh Của Vân Môn
Tắc thứ Tám Mươi Bảy: Bệnh Và Thuốc Trị Lẫn Nhau Của Vân Môn
Tắc thứ Tám Mươi Tám: Huyền Sa Tiếp Vật Lợi Sinh
Tắc thứ Tám Mươi Chín: Tay Và Mắt Của Đại Bi Bồ Tát
Tắc thứ Chín Mươi: Bát Nhă Thể Của Trí Môn
Phần 10
Tắc thứ Chín Mươi Mốt: Tê Giác Của Diêm Quan
Tắc thứ Chín Mươi Hai: Thế Tôn Một Hôm Thăng Ṭa
Tắc thứ Chín Mươi Ba: Đại Quang Sư Nhảy Múa
Tắc thứ Chín Mươi Bốn: Thấy Cái Không Thấy Trong Kinh Lăng Nghiêm
Tắc thứ Chín Mươi Lăm: Tam Độc Của Trường Khánh
Tắc thứ Chín Mươi Sáu: Ba Chuyển Ngữ Của Triệu Châu
Tắc thứ Chín Mươi Bảy: Kim Cương Kinh Khinh Tiện
Tắc thứ Chín Mươi Tám: Hai Cái Sai Của Thiên B́nh Ḥa Thượng
Tắc thứ Chín Mươi Chín: Thập Thân Điều Ngự Của Túc Tông
Tắc thứ Một Trăm: Kiếm Sắc Của Ba Lăng 


VÀI NÉT VỀ DỊCH GIẢ 

H.T.Thích Măn Giác, sanh năm Kỷ Tỵ tại Cố Đố Huế. Nguyên quán Làng Phương Lang, Quận Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Xuất gia nhập đạo năm 11 tuổi. Thọ Đại Giới năm 1948 cùng một lần với Ḥa Thượng Thiện Siêu, cố Ḥa Thượng Thiện Minh, cố Ḥa Thượng Thiên Ân…

Về Giáo Dục:

-Tốt nghiệp Đại Học Phật Giáo tại Phật Học Đường Báo Quốc Huế 1952.
-Du học Tokyo Nhựt Bổn 1960.
-Đỗ văn bằng Cao Học Văn HỌc toyo University, Tokyo,1962.
-Tùng học ban Cao Học Triết Học Ấn Độ (Faculty of Letters, University of Tokyo) 1964-1965.
-Tốt nghiệp Văn Học Bác Sĩ tại Toyo University 1968.
-Đỗ Tiến Sĩ Triết Học, University of Oriental Studies 1979.
Về Giáo Hội, Giáo Dục và Xă Hội: 
-Giảng Sư Hội Phật Học Lâm Đồng (Dalat) 1953.
-Hội Trưởng Hội Phật Học Lâm Viên Dalat 55-60.
-Bộ Giáo Dục tuyển dụng làm Giáo Sư Đại Học Văn Khoa Saigon và Huế cuối năm 1965.
-Hội Trưởng Hội Bảo Tồn Cố Đố Huế 1973-1975.
-Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Thanh Niên 1966-1969.
-Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Văn Hóa 1969-1975.
-Khoa Trưởng Phân Khoa Phật Học và Triết Học Đông Phương, Viện Đại Học Vạn hạnh 1965-1969.
-Phó Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh Đặc Trách Điều Hành 1971-1975.
-Giáo Sư Đại Học Văn Khoa Saigon và Huế 1965-1975.

Sinh Hoạt Hiện Tại: 

-Đồng Tổng Thư Kư Hội Đồng Giáo Phẩm Lănh Đạo GHPGVNTN tại Hải Ngoại
-Hội Viên Hội Đồng Quản Trị tái Thiết Vườn Lâm T́ Ni tại Hoa Kỳ
-Hội Viên Hội Đồng Tái Thiết Vườn Lâm T́ Ni của Hội Phật Giáo Thế Giới.
-Chứng Minh Đạo Sư của Buddhist Sangha Council of Southern California
-Viện Chủ Giáo Hội PGVNTN tại Los Angeles
-Hội Chủ Tổng Hội PGVN tại Hoa Kỳ

LỜI GIỚI THIỆU 

Thiền tông thường được biết đến như một tông phái “ giáo ngoại biệt truyền,bất lập văn tự, trực chỉ chơn tâm, kiến tánh thành Phật.” Nhiều người  thường hiểu lầm tôn chỉ này và xem Thiền như một tông phái có tánh cách phá chấp vượt thoát ngoài những khuôn khổ giáo thuyết cũng như đường lối tu tập và nghi thức nền tảng chung của truyền thống Đại Thừa. Sự thực th́, như một Thiền Sư đă nói, Phật Pháp tuy có thể mang nhiều h́nh thức dị biệt, để đáp ứng với những khung cảnh văn hóa và căn cơ khác nhau của con người, nhưng dù bất cứ dưới h́nh thức nào, Phật giáo cũng có một vị duy nhứt, đó là vị của giác ngộ. Hơn nữa, tuy là nói “ bất lập văn tự” trên thực tế văn học Thiền lại dồi dào như bất cứ văn học của một tông phái nào khác trong Phật Giáo Đại Thừa. Thiền Tông nhấn mạnh vào mặt kinh nghiệm cá nhân, nhắm đưa từng con  người chúng ta giáp mặt trực tiếp với chân lư trong ngay chính hoàn cảnh hiện tiền của chúng ta. Nói cách khác, mục đích của Thiền là muốn cho mọi người chúng ta phải tự thể nghiệm những chân lư trong kinh điển và chuyển hóa chúng trong ngay đời sống thường nhựt của mỗi chúng ta bằng chính mỗi con người chúng ta. Chính v́ thế mà Thiền nói rằng “ b́nh thường tâm tức là đạo”, mà Lục Tổ Huệ Năng nói rằng con người phải chuyển Kinh chứ không phải Kinh chuyển con người. Cũng chính v́ thế mà tuy rằng văn học Thiền phong phú cả về nội dung lẫn h́nh thức, song h́nh thức thông dụng nhứt lại là những ghi chép về những câu chuyện đối thoại, và những hành động giữa các Thiền Sư mà thông thường được gọi là Công Án.

Bộ sách Bích Nham Lục được dịch ra  ở đây là một thu tập của một trăm công án sưu tập bởi Tuyết Đậu Trùng Hiển (980-1052).Ngoài phần chính là những công án ra, Tuyết Đậu c̣n làm những bài ca tụng và phụ thêm những lời ghi chú để hướng dẫn các hành giả. Theo sách Ngũ Đăng Hội Nguyên , Tuyết Đậu Trùng Hiển Thiền Sư vốn họ Lư, là người phủ Toại Ninh, Minh Châu. Thoạt tiên xuất gia với Nhân Tiễn Thượng Nhận ở chùa Phổ An. Sau  khi thọ giới cụ túc Sư miệt mài nghiên cứu và suy niệm những giáo lư sâu xa trong Kinh điển. Chẳng baolâu nổi tiếng khắp nơi, ai cũng nghĩ Sư đúng là bậc pháp khí ( có nghĩa là người đủ khả năng để truyền Đạo Pháp). Sau đó, Sư lên đường nam du. Đầu tiên đến gặp Trí Môn, Sưhỏi, “ Không khởi lên bất cứ một niệm nào th́ làm sao có lỗi lầm?” Trí Môn bảo Sư bước đến gần, Sư  vừa bước đến, Trí Môn dùng phất trần đánh ngay vào miệng, Sư vừa định mở miệng, Trí Môn lại đánh nữa, Sư hốt nhiên giác ngộ. Rồi lên trú tŕ ở Thuư Phong, sau đó lại dời về núi Tuyết Đậu. Một hôm sư đi chơi núi, ngắm cảnh khắp chung quanh rồi quay lại hỏi thị giả,” Biết khi nào mới lại trở lại nơi này nữa đây?” Thị giả buồn lắm, bèn xin kệ. Sư nói, “ B́nh sinh ta vốn đă sợ là ḿnh nói quá nhiều rồi.”Hôm sau, Sư đem tất cả tư cụ của ḿnh ra phân phát  cho các đồ chúng rồi nói rằng, “ Ngày mồng bảy tháng bảy sẽ gặp lại.” Đến ngày đó, sư tắm rửa sạch sẽ, đắp y đầy đủ rồi quay về hướng bắc mà mất. Đồ chúng xây tháo đựng di thể của Sư ở phía tây của tự viện. sư được tặng biệt hiệu là Minh Giác Thiền Sư.

Sáu mươi năm sau  khi Tuyết Đậu mất đi, Viên Ngộ Khắc Cần (1063-1135) lại soạn thêm những lời giải thích về các công án căn bản cùng những bài tụng của Tuyết Đậu. Cũng theo sách Ngũ Đăng Hội Nguyên , Viên Ngộ Khắc Cần Thiền Sư ( c̣n có hiệu là Phật Quả) họ lạc, gốc người Bành Châu, vốn con nhà Nho. Thuở nhỏ đă thông minh dị thường, mỗi ngày có thể học thuộc ḷng đến hàng ngàn lời. Một hôm đến chơi chùa Diệu Tích, trông thấy sách Phật, hốt nhiên cảm thấy như t́m lại được vật cũ, tự nhủ, “ Kiếp trước ta là sa môn”. Rồi bỏ nhà cạo đầu xuất gia, học hỏi với nhiều vị thầy khác nhau. Một hôm bệnh nặng gần chết, tự nghĩ, “ Con đường chánh lộ của niết bàn của chư Phật không ở trong ngôn ngữ, ḿnh cứ lo t́m cầu bên ngoài th́ chết cũng vô ích mà thôi.” Bèn đến theo Chân Giác Thắng Thiền Sư. Chân giác chích máu trên tay đưa cho Sư xem, nói, “Đây chính là một giọt Tào Khê.” Sư lúng túng. Măi lâu sau mới nói, “Té ra là như thế”.Sau đó lại đến gặp Ngũ Tổ ( Pháp Diễn), vận dụng đủ mọi tâm cơ, vẫn không được Ngũ Tổ chấp thuận. Sư phát giận bỏ đi. Ngũ Tổ nói, “Để khi nào ông bị sốt một trận kịch liệt rồi ông mới nghĩ đến tôi.” Sư đến Kim Sơn bị đau thương hàn kịch liệt, suốt ngày nỗ lực mà cũng chẳng làm được ǵ, mới nghĩ đến lời của Ngũ Tổ, bèn phát thệ rằng khi lành bệnh thế nào cũng trở về với Ngũ Tổ. Ngũ Tổ trong thấy vui mừng lắm, bèn cho vào tham kiến và cho làm thị giả. Ngũ Tổ thường nói khắp với các bậc kỳ cựu trong Thiền rằng “ Thị giả của tôi tham Thiền chứng đắc rồi.” Cho nên đến đâu ư cũng được tôn làm thượng thủ. Năm Thiệu Hưng thứ tám (1135) Sư hơi bệnh, ngồi kiết già cầm bút viết kệ để lại cho đồ chúng, viết xong ném bút mà hóa.Lúc thiêu, lưỡi và răng vẫn c̣n nguyên, nhục thân th́ biến thành xá lợi ngũ sắc. Sư có thụy là Chân Giác Thiền Sư.

Những công án, những bài tụng của Tuyết Đậu cùng với những lời mở đầu, ghi chú và b́nh giải của Viên Ngộ được lưu truyền lại cho chúng ta dưới cái tên Bích Nham Lục (hay  Bích Nham Tập ).Bộ sách này có thể nói là bộ sách căn bản và thiết yếu nhất của văn học Thiền.

Tóm lại, nội dung của bộ Bích Nham Lục gồm một trăm tắc công án, mỗi tắc lại gồm những thành phần như sau:

THÙY: Tức những lời dẫn vào công án của Viên Ngộ. Những lời dẫn này tuy giản dị song rất quan trọng v́ chúng nêu lên những mấu chốt ch́nh để đi vào một công án đặc thù nào đó.

CỬ (Công Án): Tức là phần chính yếu gồm những lời đàm thoại giữa các Thiền Sư hay những lời giảng của một Thiền Sư nào đó được rút tỉa từ truyền thống Thiền hay từ những nguồn văn học Phật giáo khác. Phần công án này do Tuyết Đậu sưu tập.

B̀NH ( B́nh Xướng): tức những lời bàn rộng thêm của Viên Ngộ về bài tụng của Tuyết Đậu. Trong phần B́nh Xướng này Viên Ngộ đôi khi dẫn điển tích để giải thích những thành ngữ đặc biệt nào đó hoặc dẫn giải Kinh văn để cung ứng cho người học bối cảnh lịch sử hay giáo lư của một câu chuyện đặc biệt nào đó.

TỤNG: Tức lời b́nh xướng gọn bằng văn vần của chính Tuyết Đậu. Giữa những lời tụng cũng có xen kẽ những lời ghi chú của Viên Ngộ.

CHÚ: Tức phần ghi chú của Viên Ngộ về những điểm đặc thù nào đó trong công án. Trong nguyên bản Hoa Ngữ, những lời ghi chú này được in bằng chữ nhỏ xen kẽ giữa nhnữg lời của công án.

Bản dịch Việt Ngữ mà bạn đọc đang cầm trên tay đây là bản dịch trọn vẹn tất cả một trăm tắc công án chỉ ngoại trừ những lời ghi chú nhỏ xen kẽ gữa các công án và những lời ghi chú xem kẽ giữa những lời tụng. Dịch giả nghĩ rằng những lời B́nh Xướng của Viên Ngộ tức những lời bàn rộng cũng đủ là những hướng dẫn ích lợi giúp cho người học suy niệm về ư nghĩa của các công án. Nguyên bản của bộ Bích Nham Lục đă được xuất bản rất nhiều lần ở Trung Hoa cũng như Nhựt Bản. trong khi phiên dịch tôi dùng làm tại liệu chính bộ Tiêu Chú Bích Nham Lục của Cổ Phương Thiền Sư. Từng có cơ hội duyệt qua nhiều ấn bản khác nhau của bộ sách này, tôi nhận thấy ấn bản của Cổ Phương Thiền Sư với những ghi chú đầy đủ về các khía cạnh ngôn ngữ cũng như lịch sử có thể nói là một trong những ấn bản ích lợi nhứt. Ngoài ra tôi cũng so sánh với bản Bích Nham Lục Hiệu Đính ấn hành bởi học giả Nhựt Bản Ito Yuten ( Y Đằng Du Điển). Khi có dị biệt giữa hai văn bản tôi đều nêu ra trong phần chú thích và dựa theo bản nào mà tôi nghĩ là đúng hơn.

Trong khi phiên dịch, ngoại trừ tham khảo những bản chú giải bằng Nhựt ngữ của các học giả Nhựt Bản tôi cũng có được cơ hội đọc các bản dịch ra ngôn ngữ Tây Phương. Theo như tôi biết th́ từ trước đến nay có ba bản dịch, hai bản ra Anh ngữ và một bản ra Đức ngữ: [1] The Blue Cliff Record: Heikigan Roku. London, 1961, dịch bởi R.D.M.Shaw (2) The Blue Cliff Record dịch bởi Thomas và J.C.Cleary gồm ba cuốn do nhà Shambala xuất bản vào năm 1977.(3) Bi lần Yu,Meister Yuân-Wu’s Niederschrift von der Smaragdener Felswand dịch bởi Wihelm Gũndert gồm ba cuốn xuất bản năm 1961,1967 và 1971 bởi nhà xuất bản Carl Hanser. Ba bản dịch ra Đức Ngữ này chỉ mới tới tắc thứ sáu mươi tám.

Đọc những bản dịch trên tôi nhận thấy bản dịch của Shaw đầy những lỗi lầm và hoàn toàn vô ích. Nhờ Ni –sư Prabhasa Dharma Midwer ( Thích Minh Pháp) giúp, qua bản dịch Đức ngữ của Gundert tôi đă hiểu được những chú giải rất cặn kẽ và bác học. Tuy nhiên, theo ư tôi lối “ dịch giải thích” của Gundert đôi khi đâm ra quá rườm rà và xa vời ư của nguyên tắc.Trong một số trường hợp đặc thù nào đó, thú thực tôi không hiểu tại sao Gundert lại dịch như vậy. Tuy nhiên, tôi nghĩ th́ đây là bản dịch khá nhứt trong ba bản dịch kể trên, đáng tiếc là bản dịch chỉ hơn được một nửa. Hơn nửa, bản dịch lại bằng Đức ngữ không phải là một ngôn ngữ quen thuộc lắm đối với độc giả Việt Nam. Về bản dịch của Thomas và J.C.Cleary, nếu như chúng ta chỉ đọc bản Ang ngữ không thôi th́ phải nói đây là bản dịch rất thông suốt, lời văn rất giản dị trong sáng. Tuy nhiên, lúc đó với nguyên tác Hán văn, chúng ta không khỏi nhận thấy có những sai lầm đáng tiếc. Những sai lầm mà hai dịch giả này phạm phải thường là v́ họ không được quen thuộc lắm với những thuật ngữ của Thiền hoặc với những thuật ngữ mà Thiền sư dùng song lại được rút ra trong văn học Trung hoa mà người ta chỉ có thể hiểu được nếu biết nguồn của chúng. Tôi chỉ xin nêu ra đây một vài ví dụ: trong tắc mười hai ở phần B́nh Xướng của Viên Ngộ có nêu ra cuộc đàm thoại giữa Vân Môn và Động Sơn. Vân Môn nói, “ Phạn đại tử, Giang Tây Hồ Nam Tiện nhậm ma khứ”. Thomas và J.C.cleary dịch là “ You rice bag! From Kiangsi to Human, and still you go on this way.”( Vol.I.các trang 84,123) Hiển nhiên hai dịch giả này xem chữ khứ trong câu văn trên là một động từ. Song bất cứ ai quen thuộc với văn học Thiền cũng đều biết rằng chữ khứ trong thành ngữ tiện nhậm ma khứ đă tuyệt nhiên không phải là một động từ, và thành ngữ ấy chỉ có nghĩa là “ chỉ như thế đấy”, hoặc “ chỉ như thế mà thôi”. Trong lời b́nh xướng của tắc thứ mười bốn Thomas và J.C.Cleary dịch thành ngữ “quang tiền tuyệt hậu” là “prior to light and after annihilation.” (Vol.I.trang 96; Vol, II,trang 421). Dịch như vậy là hoàn toàn vô nghĩa lư. Thành ngữ này chỉ giản dị có nghĩa là “ Không từng có trước kia mà cũng sẽ không có sau này tựa như thành ngữ “ không tiền khoáng hậu” trong ngôn ngữ thường nhựt của chúng  ta mà thôi. Lời thùy của tắc thứ hai mươi hai mở đầu bằng câu “đại phương vô ngoại”, Thomas và J.C.Cleary dịch là “ there nothing outside the great vastness”, ( Vol.I.trang144), trong khi thành ngữ này chỉ có nghĩa là “ rộng lớn đến mức không c̣n phương hướng.” Đây chỉ là một vài trong vô số những lỗi lầm sơ đẳng trong bản dịch này. Tôi nêu những lỗi lầm này không với dụng ư phủ nhận công lao và sự đóng góp của hai dịch giả này, mà chỉ muốn lưu ư các người học rằng bản dịch trên tuyệt niên không phải là hoàn toàn đáng tin cậy.

Trong ba năm phiên dịch bộ sách này chủ trương  của tôi là chú trọng sự chính xác hơn là sự bóng bẩy, bởi v́ đây là một tác phẩm về tư tưởng  chứ không phải là một tác phẩm thuần  văn chương. Tuy nhiên trong lúc dịch những bài tụng, tôi cũng vẫn cố gắng dịch ra văn vần hoặc ít nhứt cũng cố giữ đúng như số với chữ với nguyên bản hơn là dịch ra văn xuôi để cho người đọc vẫn thấy thuận tai hơn. Bản dịch này, tiếp nối theo bản dịch Pháp Bảo Đàn Kinh của tôi, được xem như thể một bước tiến thêm nữa trong nguyện vọng muốn thực hiện cái công cuộc lâu dài: thiết lập những tài liệu hữu ích cho những người học Thiền. Nhận thấy bộ Bích Nham Lục với tầm quan trọng lớn lao như thế mà chưa từng bao giờ được phiên dịch ra tiếng Việt,cho nên tôi phát nguyện dịch bộ sách này ngay sau Pháp Bảo Đàn Kinh. Trong tương lai nếu hoàn cảnh thuận tiện, tôi sẽ lần lượt phiên dịch các tài liệu quan trọng trong Văn học Thiền của Trung Hoa cũng như Việt Nam.

Đức Phật có thể nói là vị giáo chủ bỏ ra nhiều thời gian nhứt để thuyết giảng giáo lư của ḿnh. Những lời thuyết giảng trong suốt thời gian ấy (49 năm) luôn luôn nhằm thích hợp với căn cơ của từng người nghe. Chính v́ thế mà đức Phật được ví như là một vị thầy thuốc giỏi biết tùy bệnh cho thuốc. Sau  khi đức Phật nhập niết bàn, giáo lư của Ngài lan truyền đến nhiều nơi khác nhau, và được giải thích, ít ra là dưới những biểu tượng và h́nh thức khác nhau, để tùy nghi với những khung cảnh văn hoá khác nhau. Từ đó mà nảy sinh ra nhiều tông phái khác nhau. Tuy nhiên Thiền tông vẫn là một tông phái thịnh hành nhứt ở Trung Hoa, Nhựt Bản cũng như Việt Nam. Kể từ khi Phật giáo mới truyền vào Việt Nam cũng đă truyền vào dưới h́nh thức của Thiền tông. Sở dĩ Thiền tông được thạnh hành và ưa chuộng như thế cũng v́ giáo lư Thiền nhấn mạnh sự trực tiếp, giản dị (song không kém thâm sâu), nhấn mạnh việc đạt được giác ngộ (bodhi) ngay trong những hoàn cảnh đặc thù và thực tiễn của từng cá nhân.( Trên phương diện thực tiễn, sở dĩ Thiền cũng thích hợp và gần gũi với người Việt Nam hơn c̣n là về vấn đề ngôn ngữ nữa. Cũng tựa như Phật giáo có ảnh hưởng không những đến đời sống tâm linh mà c̣n cả đến ngôn ngữ của người Trung Hoa, th́ Phật giáo Thiền tông với gốc rễ lâu dài ở Việt Nam cũng thể hiện được gẫy gọn hơn trong ngôn ngữ Việt Nam, ít ra là hơn các tông phái Đại Thừa khác của Ấn Độ đ̣i hỏi người tu học phải ít ra quen thuộc với nhnữg ngôn ngữ Ấn Độ). Về mặt tâm linh th́ đối với Thiền, bất cứ hoàn cảnh hay cơ duyên nào cũng có thể trở thành phương tiện thiện xảo (upaya-kausalya) để khai mở chúng vào giác ngộ. Điều này đưa Thiền gần gũi phần nào với Tantra của Tây Tạng. Chính v́ thế mà Thiền, tuy rằng vẫn trung thực với những giáo lư căn bản của Phật giáo Đại Thừa, thường xử dụng những ngôn ngữ, hành động và phương thức vượt ngoài giới hạn công ước. Nói như thế không có nghĩa rằng Thiền là hoàn toàn phi lư (irrational) hoặc là một thứ huyền hoặc thiên nhiên (nature mysticism) hay một thứ triết lư cá nhân (personal philosophy). Nghiên cứu kỹ văn học Thiền, hoặc một người học sau khi đọc kỹ bộ Bích Nham Lục này, hẳn sẽ nhận thấy rằng Thiền cũng có những phương pháp, những thuật ngữ đặc biệt của riêng nó, và những người muốn học Thiền dĩ nhiên ít nhất cũng phải quen thuộc với một số nguyên tắc và ngôn ngữ đặc thù của Thiền. Bộ sách Bích Nham Lục này nhắm cung ứng những điều kiện dự tiên này.

Do đó tôi nhận thấy, một trong những điều quan trọng trong việc xây dựng lại nền móng cho việc tu học Phật ở hải ngoại là phiên dịch thêm những tài liệu mới về Thiền( ngoài việc tái bản những tài liệu cũ) giúp cho người học có tài liệu để dựa vào trong việc học hỏi. Tôi muốn lưu ư những người học rằng những công án trong văn học Thiền chỉ ghi lại cái cực điểm trong cuộc chiêm nghiệm tâm linh lâu dài của một Thiền Sư hay một Thiền Sinh nào đó. V́ thế mà những lời dạy trong các công án mới thoạt đọc đều có vẻ hoàn toàn vô nghĩa lư, và hiển nhiên phải như thế, đối với những người “ ngoại cuộc”. Song chúng lại đầy ư nghĩa với những người đă chiêm nghiệm lâu dài về một đề tài, nói đúng hơn là về một phương thức đặc biệt nào đó để thể hiện Chân Lư, hoặc nói theo Thiền, để thể hiện Phật Tánh của ḿnh. Do đó, bộ sách Bích Nham Lục này không hẳn chỉ là  một bộ sách thuần triết lư, đúng hơn đây là một bộ sách khai mở cho chúng ta những thao thức, những suy niệm, những thành tựu, nói tóm lại, những kinh nghiệm sống động nhứt, gần gũi nhứt của các Thiền Sư trong tiến tŕnh thực nghiệm tâm linh, thể hiện giác ngộ.Bích Nham Lục lại cũng không phải là một bộ sách để cho chúng ta ngấu nghiến một mạch từ trang đầu đến trang cuối. Một trăm tắc công án này, đúng hơn, là một trăm đề tài để Thiền sinh chiêm nghiệm. Đàng rằng, cơ duyên và hoàn cảnh th́ thiên sai vạn biệt đến vô lượng, song Tuyết Đậu Thiền Sư đặc biệt sưu tập một trăm tắc công án này như thể những cơ duyên tiêu biểu nhứt.

Điều cuối cùng tôi muốn nói là nếu như bộ sách này đóng góp được một phần nhỏ nào vào việc tu học cho những người yêu chuộng Thiền th́ nỗ lực của người dịch trong ba năm qua kể như đă được tưởng thưởng xứng đáng. Ngoài ra, nếu có sự nhầm lẫn nào trong việc chuyển dịch, kính mong quư vị cao minh vui ḷng chỉ giáo. Tôi xin bái tạ.

Los Angeles, Đầu Mùa An Cư năm Mậu Th́n (30-5-88)
THÍCH MĂN GIÁC

[1] Dịch giả đă mất vào năm 1971

12-04-2000

Phần 1

TẮC THỨ NHẤT

CÁI TRỐNG KHÔNG CỦA ĐẠT MA

THÙY: Thấy khói bên kia núi biết là có lửa, thấy sừng bên kia tường biết là có trâu. Chỉ một hiểu ba, thoáng nh́n đă rơ, đó cũng như chuyện cơm nước thường ngày của tăng sĩ. C̣n như cắt đứt các ḍng nhánh, hiện lên ở phương đông, ch́m đi ở phương tây, tung hoàng nghịch thuận, tự tại cho hay lấy, vào giây phút đó, thử nói xem là hành tung của kẻ nào? Thử nh́n vào những lời dây dưa của Tuyết Đậu.

CỬ: Lương Vũ Đế hỏi Đạt Ma Đại Sư, “ Thế nào là sự thật cứu cánh siêu phàm?” Đạt Ma nói, “Trống không chẳng có ǵ là siêu phàm”. Vũ Đế hỏi, “Thế đối diện Trẫm là ai vậy?” Đạt Ma nói “Không biết”. Vũ Đế không hiểu, Đạt Ma bèn sang sông qua nước Ngụy. Sau đó Vũ Đế thuật lại câu chuyện trên cho Chí Công. Chí Công hỏi , “Thế bệ hạ đă biết người ấy là ai chưa?” Vũ Đế nói “ Không biết”. Chí Công nói, “Đó chính là Bồ Tát Quan Âm đến để truyền tâm ấn của Phật.” Vũ Đế lấy làm ân hận, bèn sai sứ đuổi theo để mời Đạt Ma trở lại. Chí Công nói, “Đừng có nói là bệ hạ sai sứ đuổi theo, dù cho là cả nước có đuổi theo đi nữa người ấy cũng không trở lại đâu.”

B̀NH: Đạt Ma từ xa nh́n thấy đất này ( Trung Hoa) có căn khí Đại Thừa, cho nên mới lênh đênh vượt biển mà tới, quyết ư trao truyền tâm ấn, khai ngộ nẻo mê, không lập văn tự, chỉ thẳng vào tâm, để người ta thấy tự tính của ḿnh mà chứng thành Phật đạo[1].Nếu ai có thể thấy được như thế đương nhiên cũng được giải thoát, không c̣n bị tất cả các hệ lụy của ngôn ngữ ràng buộc, lập tức siêu việt lên tất cả chứng thành ngay Phật tính [2].Sau đó mới có thể nói chuyện với Vũ Đế cũng như thấy rơ cái chỗ an tâm của Nhị Tổ[3].Không c̣n những  so đo phân biệt của cảm quan, cắt đứt tất cả những thứ này, b́nh thản tự tại, cần ǵ c̣n phải phân biệt thị phi, tính toán được mất? Tuy là như vậy, song mấy ai có thể như thế?

Vũ Đế thường mặc áo cà sa, đích thân giảng Kinh Phóng Quang Bát Nhă[4], giảng sống động đến mức khiến hoa trời rơi tơi tả xuống đất biến thành ngọc lưu ly. Vũ Đế c̣n học Đạo thờ Phật, ra lệnh cho thiên hạ xây chùa độ tăng, tu hành theo giáo lư. Thiên hạ gọi ông là Phật Tâm Thiên Tử.

Lúc Đạt Ma mới đến gặp Vũ Đế, Vũ Đế bèn hỏi , “Trẫm xây chùa độ tăng, như thế có công đức chăng?” Đạt Ma nói “ Chẳng có công đức ǵ cả”. Như thế chẳng khác ǵ xối nước bẩn lên đầu người ta. Nếu như ai hiểu được câu nói “ chẳng có công đức ǵ cả” này, kể như người ấy đủ khả năng đối diện Đạt Ma. Thử nói xem xây chùa độ tăng mà lại chẳng có công đức ǵ cả? ư nghĩa lời này là ở đâu?

Vũ Đế thường cùng Lũ Ước Pháp sư, Phó Đại Sĩ, và Chiêu Minh Thái Tử bàn luận về hai sự thật cứu cánh và công ước. Cứ theo như trong giáo lư th́ sự thật cứu cánh là để giải minh phi hữu, sự thật công ước là để giải minh phi-vô. Cứu cánh và công ước không phải là hai, đó chính là sự thật tuyệt đối siêu phàm. Đó là chỗ vi diệu huyền ảo nhất mà hỏi Đạt Ma, “ Thế nào là sự thật cứu cánh siêu phàm?” Đạt Ma nói, “ Trống không chẳng có ǵ là siêu phàm”. Tất cả các tăng sĩ trong thiên hạ không ai nhảy ra khỏi chỗ này nổi cả. Đạt Ma dùng một đao cắt đứt tất cả chấp trước cho Vũ Đế. Nay người ta mới hiểu lầm làm sao, lại dở tṛ tinh quái trợn mắt mà nói, “trống không chẳng có ǵ ăn nhằm đến lời dạy của Đạt Ma cả.

Ngũ Tổ thường nói, “Chỉ cần người ta có thể hiểu thấu cái nguyên lư trống không chẳng có ǵ là siêu phàm này là người ta có thể về nhà ngồi b́nh thản.” Một bên th́ thiên hạ lo tạo ra những phức tạp, song cũng chẳng hại ǵ đến việc Đạt Ma đập vỡ cái thùng đen[5] cho họ. Đạt Ma chính là người kỳ đặc nhất trong vấn đề này. Cho nên mới có lời nói, “ Nếu như có thể tham hiểu một câu, th́ có thể hàng vạn câu một lúc”. Lúc ấy đương nhiên người ta có thể thấu rơ, nắm vững. Cổ nhân nói, “ Tan Xương nát thịt không đủ trả, hiểu được một câu vượt trăm ức.”

Đạt ma đối diện trực tiếp với Vũ Đế, lận đận biết bao. Vũ Đế không giác ngộ, lại c̣n dựa vào kiến chấp, nhân-ngă, hỏi thêm một câu, “Đối diện với Trẫm là ai?” Đạt Ma từ bi cùng tột, lạinói với Vũ Đế “Không biết”. Khiến cho Vũ Đế kinh hoàng đi, không hiểu Đạt Ma muốn nói ǵ . Đến mức này mà c̣n chấp có hay không th́ đều chẳng nhằm.

Đoan ḥa thượng có lời tụng rằng;

Một tên b́nh thường một ưng rơi

Lại thêm tên nữa mất công thôi

Trở về Thiếu Thất ngồi yên đó,

Vũ Đế đừng mong ngỏ lời mời.

Lại nói, “ Ai muốn mời Đạt Ma trở lại cơ?”

Vũ Đế không hiểu, Đạt Ma bỏ nước Lương mà đi, lăo hán này chỉ c̣n biết lúng túng. Đạt Ma bèn qua sông đến nước Ngụy. Sau này có truyền kỳ nói lại rằng Đạt Ma đạp trên một cọng lau mà qua sông. Điều này không được rơ lắm, có thể là những lời tán tụng mà thôi.[6]Lúc ấy Ngụy Minh Đế đang trị v́. Minh Đế vốn thuộc về một chủng tộc phương bắc, gọi là Thác Bạt (Toba) sau này mới tự nhận là người Trung Quốc. Đạt Ma đến đó không đi gặp ai nữa mà lên thẳng núi Thiếu Lâm, ngồi thiền quay mặt vào tường suốt chín năm. Sau đó mới gặp Nhị Tổ. Người ở vùng đó gọi Đạt Ma là “ Bích Quán Bà La Môn”.

Vũ Đế sau đó hỏi Chí Công, Chí Công nói, “ Thế bệ hạ đă biết người ấy là ai chưa?” Vũ Đế nói, “Không biết”. Thử nói xem cái “ không biết” này là một hay khác với cái “không biết” của Đạt Ma. Giống th́ có giống, nhưng mà không phải là một. Thiên hạ hay hiểu lầm mà bảo rằng, “ Trước đó, lúc Đạt Ma nói “ không biết” là đang trả lời về Thiền, sau đó lúc Vũ Đế trả lời Chí Công, câu trả lời ấy chỉ nằm ở b́nh diện tri thức công ước.” May thay điều này chẳng có ǵ nhằm nḥ với ư chỉ của Đạt Ma. Lúc ấy Chí Công hỏi như thế, thử hỏi xem, Vũ Đế phải trả lời như thế nào? Tại sao không một gậy đập chết Chí Công đi cho rồi để khỏi phải lộ vẻ hồ đồ? Vũ Đế lại thành thực mà khẩn khoản đáp là “ không biết”. Chí Công thấy cơ hội, bèn chụp lấy mà nói, “Đó chính là Bồ Tát Quan Âm đến để truyền tâm ấn của Phật.” Vũ Đế bèn ân hận mà sai sứ đuổi theo để mời Đạt Ma trở lại. Ngây ngô thật! Phải chi lúc Chí Công nói, “Đó chính là Bồ Tát Quán âm đến để truyền tâm ấn của Phật,” mà Vũ Đế tống cổ ông ta ra khỏi nước th́ hẳn đă c̣n có ǵ hay ho hơn.

Theo truyền thuyết th́ Chí Công mất vào năm Thiên Giám thừ mười ba (514 A.D), Đạt Ma th́ măi năm Đại Thông nguyên niên (520 A.D.) mới tới Lương. Như thế là cách nhau có đến bảy năm, làm thế nào có thể bảo là hai người có gặp nhau được? Đây hẳn phải là một truyền thuyết sai lầm. Song những ǵ đă ghi lại trong truyền thống, ở đây không bàn căi làm ǵ. Điều quan trọng là phải hiểu cái ư chính của vấn đề mà thôi. Thử nói xem, Đạt Ma là Quan Âm, Chí Công cũng là Quan Âm, vậy th́ ai thật sự là Quan Âm đây? Đă là Quan Âm th́ tại làm sao lại c̣n có hai? Tại sao lại chỉ có hai, mà không hàng đoàn hàng lũ?

Sau đó ở Ngụy Đạt Ma có nghị luận với Quang Thống luật sư và tam tạng sư Bồ Đề Lưu Chi. Đạt Ma gạt bỏ h́nh tướng chỉ thẳng vào tâm, song hai vị kia th́ chấp trước thành kiến cho nên không chấp nhận nổi lập luận của Đạt Ma. Rốt cuộc c̣n sinh khởi ḷng ganh ghét và mấy bận toan đầu độc Đạt Ma. Đến lần thứ sáu, v́ hóa duyên đă trọn vẹn, và cũng đă t́m được người để truyền Pháp, bèn thản nhiên chấp nhận[7], rồi ngồi thẳng thắn mà mất. Đạt Ma được mai tang ở chùa Định Lâm trên núi Hùng Nhĩ. Sau này người nước Ngụy là Tống Vân trên đường đi sứ có gặp Đạt Ma trên ngọn Thông Lĩnh tay cầm một chiếc dép trở về Ấn Độ.

Vũ Đế  thương tiếc, tự soạn văn bia rằng, “Ôi, thấy mà chẳng thấy, gặp mà chẳng gặp, ngàn xưa ngàn sau, oán thay hận thay.” Rồi lại tán thán rằng,” Tâm mà không th́ trong sát na chứng được diệu giác, tâm mà có th́ ngàn muôn kiếp vẫn đọa luân hồi.”

Thử nói xem hiện giờ Đạt Ma ở đâu? Đi qua rồi mà cũng chẳng biết.

TỤNG:

Sự thật trống không

Làm sao phân biện

Trước trẫm là ai?

C̣n nói không biết

Do đó lén qua sông

Há không sinh gai góc

Cả nước đuổi theo cũng chẳng về,

Ngàn sau ngàn xưa nhớ mong suông

Đừng nhớ mong

Gió thổi mặt đất bao giờ ngưng

Sư nh́n hai bên nói:

Nơi này c̣n có Tổ Sư chăng/

Tự đáp, “Có”.

Đến đây rửa chân cho lăo tăng

B̀NH: Tuyết Đậu tụng công án này, giống như y thể khéo múa Thái A Kiếm, uyển chuyển trong không, đương nhiên không phạm phải mũi nhọn. Nếu như không có cái khả năng này, th́ vừa nhặt kiếm lên tay hẳn đă bị mũi nhọn đả thương. Đối với những người đủ mắt để nh́n thấy th́ một niệm, một xuyên, một khen, một chê, chỉ dùng tứ cú mà định đoán cả một tắc công án. Phàm việc tụng cổ, thường là giảng về Thiền một cách ṿng vo, nêu lên ư chính của vấn đề xưa, rồi theo các dữ kiện mà kết thúc công án, chỉ có thế thôi.

Tuyết Đậu giáp mặt trực tiếp với công án, lập tức tụng rằng, “Sự thật trống không, làm sao phân biện?” Dưới câu đầu, Tuyết Đậu thêm một câu này, quả là kỳ đặc hết sức. Thử nói xem, rốt cuộc phải phân biện như thế nào? Dù cho có mắt sắt người đồng đi nữa, cũng chẳng biết đường nào mà rờ rẫm. Đến  chổ này rồi, há có thể lấy tỉnh thức ra mà đắn đo được sao? Do đó mà Vân Môn nói, “ Như đánh đá lửa, giống ánh điện chớp”. Vấn đề này không nằm trong sự suy nghĩ hay ư tưởng. Đến lúc mà ông há miệng, th́ đâu c̣n có công dụng ǵ nữa. Ngay lúc tính toán so đo vừa khởi, th́ con chim cắt đă bay qua Tân La ( Cao Ly ) rồi.

Tuyết Đậu nói, “Các ông tăng trong thiên hạ, các ông phân biện vấn đề này như thế nào? Đối diện với trẫm là ai?” Lại c̣n nói “không biết”. Đây chính là chỗ từ tâm của Tuyết Đậu, nổ lực không ngớt để giúp thiên hạ. Thử nói xem “trống không” và “ không biết” là một hay hai. Nếu như người đủ khả năng hiểu, thế nào cũng phân nó làm hai. Thiên hạ ở mọi nơi thường nói, “Tuyết Đậu cùng lắm chỉ nêu lại vấn đề lên một lần nữa mà thôi.” Đâu có biết rằng, bốn câu tụng đă nói lên hết ư nghĩa của công án rồi.

Sau đó v́ ḷng từ bi, Tuyết Đậu mới tụng sự tích nhân duyên rằng, “ Do đó lén qua sông, há không sinh gai góc?” Đạt Ma đến xứ này vốn để giải thoát thiên hạ khỏi chỗ dính dấp ràng buộc, nhổ đinh bạt chốt, cắt dọn gai góc. Tại sao Tuyết Đậu lại đi nói rằng Đạt Ma làm gai góc sinh? Cũng không phải chỉ vào buổi ấy, mà ngày nay dưới chân mọi người gai góc cũng đă thâm đến mấy trượng. “Cả nước đuổi theo cũng chẳng về, ngàn xưa ngàn sau nhớ mông suông”, đúng là không phải trượng phu. Thử nói xem, Đạt Ma ở đâu? Nếu thấy được Dạt Ma th́ sẽ thấy được chỗ v́ người của Tuyết Đậu. 

Tuyết Đậu lại sợ thiên hạ mải đuổi theo kiến thức thường t́nh, cho nên mở tung khóa chốt, để lộ chỗ thấy của ḿnh mà nói rằng, “Đừng nhớ mong! Gió thổi mặt đất bao giờ ngưng.” Nếu đă không nhớ mong, th́ các chuyện dưới chân ḿnh làm sao mà nảy sinh? Tuyết Đậu nói, hiện giờ ở đây, gió trong thổi mặt đất, trên trời dưới đất, có chỗ nào là cùng cực? Tuyết Đậu đem tất cả các việc từ thiên cổ vạn cổ ném ngay ra trước mặt. Không phải chỉ với một ḿnh Tuyết Đậu, mà ngay hiện giờ có chỗ nào là cùng cực? Ngay cả nơi con người các ông,có chỗ nào là cùng cực?

Tuyết Đậu lại vẫn sợ thiên hạ sẽ chấp trước vào chỗ này, cho nên lại mượn vào phương tiện, lớn tiếng nói, “Nơi này c̣n có Tổ Sư chăng?” Rồi tự trả lời, “Có”. Ở đây Tuyết Đậu chẳng c̣n ngần ngại bộc lộ ḷng dạ của ḿnh cho thiên hạ. Lại tự nói, “Đến đây rửa chân cho lăo tăng”.Quả t́nh là hạ thấp quang huy của người ta một cách quá đáng, song lúc ấy Tuyết Đậu cũng đă cung hiến cả tay chân ḿnh. Thử nói xem, ư của Tuyết Đậu nằm ở chổ nào? Đến chổ này rồi th́ có gọi là lừa cũng được, có gọi là ngựa cũng được, mà có gọi là Tổ Sư cũng được. Song làm sao có thể gọi tên hay mô tả được? Ư kiến thông thường rằng Tuyết Đậu chỉ lợi dụng Tổ Sư, may thay chẳng có ǵ nhằm nḥ với việc này cả. Nhưng mà thử nói xem, rốt cuộc là chuyện ǵ đây? “Chỉ cho lăo hồ biết, không cho lăo hồ hiểu”.
 
 

TẮC THỨ NH̀

CHÍ ĐẠO VÔ NAN CỦA TRIỆU CHÂU 

THÙY: Trời đất hẹp; trăng sao tinh tú đồng thời tối ám. Dù cho là gậy giáng xuống như mưa sa, tiếng hét vang dội như sấm động, các ông vẫn chưa đảm đương được việc hướng thượng của tông môn.Dù cho là chư Phật của ba đời, cũng chỉ có thể tự biết;Tổ Sư của các thế hệ cũng không thể đề cập rốt ráo được vấn đề. Cả một kho giáo lư cũng không giải thích hết, các tăng sĩ thông thái cũng không tự cứu được. Đă đến mức độ này rồi, làm thế nào c̣n xin chỉ đạo nữa được?Nói ra chữ “Phật” chẳng khác ǵ là lội trong nước bùn, nói ra chữ “ Thiền” cả mặt lúng túng. Bậc thượng sĩ có công tu tập lâu dài chẳng cần phải đợi ai nói, c̣n kẻ hậu học căn cơ thô thiển th́ vẫn cần phải điều nghiên và hiểu thấu.[8]

CỬ: Triệu Châu dạy chúng nói, “Đạo lớn không khó miễn đừng so đo. Vừa có ngôn ngữ lập tức có lựa chọn so đo. Điều này hết sức minh bạch. Lăo tăng này chẳng ở nơi minh bạch. Các ông có c̣n tŕ giữ ǵ chăng?”

Lúc ấy có ông tăng hỏi, “ Không ở nơi minh bạch, th́ thầy tŕ giữ cái ǵ?”

Triệu Châu nói “ Tôi cũng chẳng biết nữa.”

Ông tăng nói, “Ḥa thượng đă không biết cớ sao c̣n nói là không ở nơi minh bạch?”

Triệu Châu nói, “Hỏi về vấn đề là đủ rồi. Mau lạy rồi trở lui.”

B̀NH: Triệu Châu thường dẫn lời “Đạo lớn không khó, miễn đừng so đo” này. Đây vốn là từ bài Tín Tâm Minh” của Tam Tổ[9] “Đạo lớn không khó, miễn đừng so đo. Đừng thích hay ghét, tự nhiên minh bạch.” Vừa khởi ḷng thị phi, tức là có lựa chọn so đo, điều này  rất minh bạch. Vừa sinh ḷng hiểu như thế, vấn đề kể như đă vuột mất. Khi bị ràng buộc dính dấp, biết làm được ǵ? Triệu Châu nói, “Đây là lựa chọn so đo, điều này rất minh bạch.” Thời buổi này người tham Thiền học đạo, nếu không vướng vào chỗ lựa chọn so đo, th́ cũng ngồi trong sự minh bạch. Triệu Châu nói, “ Lăo tăng không ở nơi minh bạch. Các ông có c̣n tŕ giữ ǵn nữa chăng?” Các ông đă không ở chỗ minh bạch, thử nói xem, Triệu Châu ở đâu? Tại sao vẫn c̣n dạy cho thiên hạ tŕ giữ?

Ngũ Tổ thường nói, “Đưa tay ra như thế dắt các ông, các ông hiểu như thế nào? Thử nói xem, đâu là chỗ đưa tay ra? Nhận thức ư nghĩa đầu lưỡi câu, đứng chấp vào điểm giữa cán cân.

Ông tăng kia bước ra, quả là kỳ đặc hết sức. Tại sao vậy? Ông ta nắm được chỗ hở của Triệu Châu bèn dồn Triệu Châu bằng câu hỏi. “ Ḥa thượng đă không ở nơi minh bạch th́ c̣n tŕ giữ cái ǵ nữa?” Triệu Châu cũng hay, chẳng bao giờ dùng đến gậy hay hét, chỉ nói, “ Tôi cũng chẳng biết”. Nếu như không phải là lăo tăng , bất cứ ai bị ông tăng kia dồn như thế ắt cũng đến phải lúng túng. May mà lăo tăng Triệu Châu có thể tự tại chuyển thân cho nên mới trả lời ông tăng như trên. Những kẻ học Thiền ngày nay, bị hỏi cũng thường trả lời, “ Tôi cũng chẳng biết, chẳng hiểu.” Có điều tuy chung một đường song không cùng một lối. Ông tăng kia có chỗ đặc biệt lắm; mới biết hỏi tiếp, “ Ḥa thượng đă không biết, cớ sao c̣n nói là không ở nơi minh bạch?” Đối đáp thật hay!

Nếu như là người khác th́ không cách chi mà gỡ gạc cho được. song Triệu Châu lại là một chuyên gia, chỉ nói với ông tăng kia, “ Hỏi về vấn đề là đủ rồi, lạy rồi trở lui đi.” Ông tăng này vẫn chẳng biết phải đối xử thế nào với lăo hán này, chỉ c̣n biết ấm ức ngậm miệng.

Đây đúng là bậc tông sư đại đảm, không bao giờ bàn luận về lẽ huyền diệu hay cơ cảnh với chúng ta, mà chỉ tiếp thiên hạ bằng những vấn đề căn bản nhất. Cho nên nói, “ Khi chúng ḿnh bài báng nhau ta chấp các ông cặp sừng, khi chúng ḿnh phỉ nhổ nhau ta chấp các ông tạt nước.” Đâu có ai ngờ rằng lăo hán này suốt đời hành cước chẳng bao giờ xử dụng đến gậy hay hét, mà chỉ dùng những lời lẽ tầm thường, có điều người trong thiên hạ chẳng ai làm ǵ được ông ta cả. Chỉ bởi v́ b́nh sinh không bao giờ ông ta chịu so đo:cho nên ông ta đắc đại tự tại tha hồ tung hoành ngang dọc. Người thời buổi này không hiểu, chỉ nói rằng Triệu Châu không trả lời câu hỏi hoặc giải thích cho người khác. Họ đâu có ngờ rằng sự việc lướt qua trước mặt họ mà họ không hay biết.

TỤNG: 

Đạo lớn không khó

Đầu mối ngôn ngữ

Một có nhiều loại

Hai không nhị nguyên

Chân trời nhật nguyệt lên xuống

Ngoài song núi thâm nước lạnh

Trong đầu ư cạn sao c̣n vui

Cây khô điệu sáo vẫn chưa dứt

Khó thật! Khó thật!

So đo minh bạch bạn tự nh́n.

B̀NH: Tuyết Đậu biết ư của Triệu Châu cho nên mới tụng rằng, “Đạo thật không khó.” Sau đó lại nói tiếp, “Đầu mối ngôn ngữ”. Chỉ một mà không hiểu ba. Tuyết Đậu nói, “Một có nhiều loại, hai không nhị nguyên,” đây chính là lấy ba mà hiểu lại một. Thử nói xem đâu là đầu mối ngôn ngữ? Tại sao trong một có nhiều loại mà trong hai lại không có nhị nguyên? Nếu như không đủ mắt để nh́n, biết rờ rẫm ở đâu đây? Nếu như hiểu được hai câu này, th́ đúng như la cổ nhân gọi là “ trở thành thuần nhất[10] lại như xưa thấy núi là núi sông là sông, dài là dài, ngắn là ngắn, trời là trời, đất là đất.” Song cũng có lúc gọi trời là đất, có lúc gọi đất là trời, có lúc bảo núi không phải là núi, bảo sông không phải là sông. Rốt cuộc làm thế nào để được b́nh an? Gió tới cây rung, sóng dâng thuyền lên.Xuân sinh hạ trưởng thu liễm đông tàn. Mọi vật tự diễn biến theo thứ tự b́nh thường của chúng. Bốn câu tụng này đột nhiên dứt tuyệt.

Tuyết Đậu có thừa tài, cho nên mới mở túi ra cho chúng ta một kết luận. Có điều chỉ giống như đặt thêm đầu lên đầu mà thôi, nói rằng “Đạo Phật không khó, đầu mối ngôn ngữ. Một có nhiều loại, hai không có nhị nguyên.” Tuy rằng không có nhiều sự vật, song nơi chân trời lúc mặt trời mọc th́ mặt trăng lặn, ngoài song lúc núi thâm th́ nước lạnh. Đến mức này rồi th́ ngôn ngữ cũng đến nơi cùng cực, cái ǵ cũng là đạo và mọi vật đều là thật. Phải chăng đây là lúc mà tâm cảnh đều quên, hợp thành thuần nhất. Đầu lời tụng Tuyết Đậu có hơi đơn độc và lừng lững; khúc cuối lại cũng có phần lậu đậu không ít. Nếu như tham rơ ra thấy suốt được, th́ nó giống như mùi vị của đề hồ. C̣n nếu như vẫn chưa dứt bỏ được cảm quan, th́ chỉ thấy mơ hồ lúng túng, tuyệt nhiên không thể hiểu được lối nói chuyện này.

“Trong đầu ư cạn sao c̣n vui, cây khô điệu sáo vẫn chưa dứt”. Đây chính là chổ phối  hợp, các công án hỏi về Đạo của người xưa, Tuyết Đậu rút tỉa ra, xâu vào một chuỗi, rồi dùng mà tụng “đạo lớn không khó, miễn đừng so đo.” Người bây giờ không hiểu ư cổ nhân, chỉ cắn chữ nhai câu, đến bao giờ mới hết đây? Phải là một người thông thạo lắm mới hiểu được lối nói chuyện này.

Chẳng lẽ chưa nghe có ông tăng hỏi Hương Nghiêm, “Thế nào là đạo?” Hương Nghiêm đáp, “Điệu sáo trong rừng cây khô.” Ông tăng hỏi, “Thế nào là người trong đạo?” Hương Nghiêm đáp, “Đôi mắt trong đầu lâu”. Sau đó ông tăng hỏi Thạch Sương, “ Thế nào là điệu sáo trong rừng cây khô?” Thạch Sương nói, “Vẫn c̣n thấy vui.” Ông tăng nói, “Thế nào là đôi mắt trong đầu lâu?” Thạch Sương nói, “ Vẫn c̣n vướng vào trong trí thức”. Ông tăng thuật lại cho Tào Sơn. Tào Sơn nói, “Huyết mạch chưa đoạn”. Ông tăng hỏi,” Thế nào là đôi mắt trong đầu lâu?” Tào Sơn nói, “Chưa khô hết”. Ông tăng hỏi, “Ai là người nghe thấy?” Tào sơn nói, “Không trời đất là không có người nào không nghe.” Ông tăng hỏi,” Không hiểu cái câu “điệu sáo’ kia trích dẫn từ đâu?” Tào Sơn nói, “Không hiểu là trích dẫn từ đâu, song những ai nghe thấy đều chết cả.” Rồi tụng rằng, “ Cây khô điệu sáo thật thấy đạo, đầu lâu không thức mắt mới sáng. Hỉ thức diệt hết mọi sự dứt, sao phân biệt được trong với đục?” Tuyết Đậu có thể nói là có kỹ sảo lớn, một lúc mà co thể tóm lược bài tụng cho các ông. Tuy như vậy, chẳng hề vướng vào nhị nguyên.

Chỗ cuối bài tụng, Tuyết Đậu có ư v́ người, mới nói, “Khó thay, khó thay!” Chính cái “ khó thay, khó thay , khó thay” này mà các ông phải tham cho thấu th́ mới có thể hiểu được. Tại sao lại như thế? Há không nghe Bách Trượng nói, “Tất cả ngôn ngữ, sơn hà đại địa, mỗi cái tự trở về với chính ḿnh.” Phàm những cái Tuyết Đậu nêu ra hay lấy đi cuối cùng đều tự trở về chính nó. Thử nói xem chỗ nào là chỗ Tuyết Đậu v́ thiên hạ? So đo, minh bạch, tự ông nh́n lấy? Đă bày vẽ dây dưa, tại sao lại c̣n nói, ông tự nh́n lấy.” Thử nói xem ư của thầy ta ở chỗ nào? Đừng có nói là người khác không hiểu nổi, ví dù sư núi này đến chỗ đó, cũng chẳng thể nào hiểu nổi.
 
 

TẮC THỨ BA

MĂ SƯ BẤT AN 

THÙY: Một cơ một cảnh, một lời một câu,phải t́m lối mà vào. Có một vết thương trên thịt, nó có thể thành hang thành động. Đại dụng hiện tiền không c̣n qui tắc .Phải t́m cho ra cái chỗ hướng thượng.Nó bao trùm trời đất, song không biết chỗ nào mà rờ rẫm. Như vậy cũng được mà không như vậy cũng được, thế th́ quá rườm ra. Như vậy cũng không được mà không như vậy cũng không được, thế th́ quá đơn độc. Không theo hai con đường này, như thế nào mới đúng? Xin thử nêu ra xem.

CỬ: Mă Đại Sư[11] không khỏe. Viện chủ hỏi “ Gần đây sức khoẻ của ḥa thượng như thế nào? Đại sư nói, “ Nhật diện Phật, nguyệt diện Phật[12]

B̀NH: Mă Đại Sư không khỏe. Viện Chủ hỏi, “Gần đây sức khỏe của Thầy ra sao?” Đại Sư nói, “Nhật diện Phật, nguyệt diện Phật.” Nếu như các bậc Tổ Sư không đương đầu với thiên hạ bằng những vấn đề căn bản nhất, làm thế nào chúng ta có thể có được cái quang huy của Đạo như thế này? Nếu hiểu được cái cốt yếu của công án này, người ta có thể một ḿnh lửng thửng tận trời cao. Nếu không hiểu được cốt yếu của nó th́ tựa như lạc bước trước rặng cây khô trên vách đá. Nếu như là người có bản lănh, đến chỗ này hẳn phải có khả năng để dắt trâu của thợ cầy, đoạt thức ăn của người đói, th́ mới có thể thấy được cái chỗ v́ người của Mă Đại Sư.

Ngày nay có nhiều người nói rằng Mă Đại Sư tiếp viện chủ. May thay mà lời ấy chẳng có ǵ nhằm nḥ với việc này cả. Ngày nay trong chúng tăng cũng có nhiều người hiểu sai, trợn mắt mà nói, “Ở đây mắt trái là nhật diện, mắt phải là nguyệt diện.” Nói như vậy th́ có ǵ là nhằm nḥ? Cho dù đến năm con lừa đi nữa nằm mộng cũng chẳng thấy được. Chỉ để cho ư của cổ nhân lướt qua mà không bắt được.

C̣n như Mă Đại Sư nói như thế, ư nghĩa ở chỗ nào? Có người bảo ư Mă Đại Sư muốn nói là, “Pha thuốc đau bụng và mang đến cho tôi một chén.” Như thế th́ có ǵ nhằm nḥ? Đă đến chỗ này rồi th́ làm sao để được b́nh an? Cho nên mới có lời nói, “ Một con đường hướng thượng, ngàn thánh không truyền; người học mệt mỏi với h́nh tướng, giống như con khỉ bắt bóng.”

Chỉ cái “ Nhật diện Phật, nguyệt diện Phật”này cũng hết sức khó thay, ngay cả  Tuyết Đậu cũng thấy khó tụng. Song bởi v́ thầy ta đă thấy rơ, cho nên mới dùng hết sức b́nh sinh ra mà chú giải.Các vị có muốn thấy Tuyết Đậu không? Xin đọc đoạn văn dưới đây.’

TỤNG:

Nhật diện Phật nguyệt diện Phật

Ngũ đế tam hoàng là cái ǵ?

Hai mươi năm nay bao tân khổ,

V́ mấy người bận vào hang rồng!

Cái mệt nhọc này đáng nói lại,

Nạp tăng mắt sáng chớ coi thường.

B̀NH: Khi Tống Thần Tông c̣n tại vị (1086-1085) ông ta nghĩ rằng bài tụng này châm biếm quốc gia, cho nên không cho phép ghi vào Đại Tạng. Trước hết Tuyết Đậu nêu ra, “Nhật diện Phật nguyệt diện Phật, Ngũ đế tam hoàng là cái ǵ?” Thử nói xem, ư của thầy ta nằm ở đâu? Vừa rồi tôi mới giải thích cho quí vị rồi. Tuyết Đậu trực tiếp chú giải ( Mă Tổ). Cho nên mới có lời nói rằng “ Thả câu bốn biển, chỉ câu mănh long.” Chỉ một câu này đă chấm dứt bài tụng.Sau đó, Tuyết Đậu lại vụng về việc nổ lực tham thiền cả đời của thầy ta. “ Hai mười năm nay bao tân khổ, v́ người mấy bận vào hang rồng”. Tuyết Đậu giống cái ǵ? Giống như một người vào hang rồng để t́m ngọc. Sau đó mới phá tan vô minh. Dù việc này có thể nói là kỳ đặc hết sức, nguyên lai chỉ giống như “ Ngũ đế tam hoàng là cái ǵ? “ Thử nói xem, cốt yếu của lời nói của Tuyết Đậu nằm ở chổ nào? Cần phải tự ḿnh lui lại mà ngó, sau đó mới thấy được nó nằm ở chỗ nào?

Đa số người ta không hiểu ư của Tuyết Đậu chỉ nói là thầy ta châm biếm quốc gia. Hiểu như thế, chỉ là t́nh kiến. Đây là trích từ bài “ Công Tử Hành Thi” của Thiền Nguyệt, “Áo gấm thêu, tay cầm chim cắt; lững thững mặt mày đầy khinh hốt. Cấy gặt khó khăn nào hay biết, Ngũ đế tam hoàng là cái ǵ?” Tuyết Đậu nói, “ Cái mệt nhọc này đáng nói lại, nạp tăng mắt sáng chớ coi thường.” Có bao nhiêu người sinh sống trong hang rồng? Dù cho ông có là ông tăng mắt sáng có mắt trên trán và đạo bùa dưới nách, chiếu sáng khắp tứ phương thiên hạ, đến chỗ này cũng không thể khinh hốt, mà phải cẩn trọng mới được.
 
 

TẮC THỨ TƯ

ĐỨC SƠN MANG BAO HÀNH TRANG

THÙY: Dưới thanh niên bạch nhật, không cần phải vạch đông  chỉ tây. Song tùy thời tiết nhân duyên vẫn cần phải tùy bệnh cho thuốc. Thử nói xem, buông thả hay giữ chặt cái nào hơn? Thử nêu ra xem sao.

CỬ: Đức Sơn đến nơi của Qui Sơn, ôm bao hành trang vào Pháp đường, đi từ tây qua đông rồi từ đông qua tây, nh́n quanh nói, “ Vô, vô,” rồi bỏ ra ngoài. Tuyết Đậu phê b́nh rằng “ Khám phá ra rồi.” Song khi Đức Sơn đến cổng lại nói, “ Cũng không nên thô suất như thế.” Rồi lại đầy đủ uy nghi trở vào gặp Qui Sơn. Lúc Qui Sơn ngồi đó, Đức Sơn dơ tọa cụ lên nói, “Ḥa thượng!” Qui Sơn toan chụp lấy phất trần, Đức Sơn bèn hét, rồi rũ áo bỏ đi ra.

Tuyết Đậu phê b́nh rằng, “Khám phá ra rồi.”

Đức Sơn quay lưng về Pháp đường, mang dép cỏ vào rồi bỏ đi. Tối đến Qui Sơn hiỏ vị thủ ṭa, “ Người vừa rồi mới đến đâu rồi?” Thủ ṭa nói, “Lúc ấy ông ta quay lưng về Pháp đường, mang dép cỏ vào rồi bỏ đi.” Qui Sơn nói, “ Người ấy sau này thế nào cũng lên đỉnh cao tự xây am cỏ mà tiếp tục bài Phật bang Tổ.”

Tuyết Đậu phê b́nh, “ Thêm sương lên tuyết.”

B̀NH: Nêu xong lời của Đức Sơn chỉ thêm ba chữ “điểm”. Quí vị có hiểu không? Có lúc xem một cọng cỏ như thân vàng một trượng sáu ( của Phật), có lúc lại xem thân vàng một trượng sáu ( của Phật ) như một cọng cỏ.

Qui Sơn vốn là giảng sư, tại Tứ xuyên giảng Kinh Kim Cương[13]Theo lời dạy trong Kinh th́ trong trí huệ đạt được sau khi chứng Kim Cương Dụ Định (Vajropamasamàdhi), người hành giả học uy nghi Phật trong một ngàn kiếp, tu tập Phật hạnh trong một ngàn kiếp, rồi sau đó mới thành Phật .Thế mà bọn ma ở phương nam lại nói, “Tâm chính là Phật”. Đức Sơn lấy làm công phẫn, gánh theo sớ sao đi về phương nam để dẹp tan bọn ma này. Thấy thầy ta công phẫn như thế cũng đủ hiểu thầy ta là một tay mănh liệt như thế nào.

Lúc mới đến Phong Châu, Đức Sơn gặp một bà lăo bán bánh rán bên lề đường, mới đặt sớ sao xuống, định mua vài món ăn điểm tâm. Bà lăo hỏi, “ Thầy mang theo cái ǵ vậy?” Đức Sơn nói, “ Kim Cương Kinh Sớ Sao.” Bà lăo nói, “Tôi có một câu hỏi, nếu thầy trả lời được xin biếu không bánh cho thầy điểm tâm, c̣n nếu không trả lời được th́ đi chổ khác mà mua”. Đức Sơn nói, “ Cứ hỏi đi”.Bà lăo nói, “ Kinh Kim Cương nói: quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc,chẳng hay thượng tọa muốn điểm tâm cái nào đây?” Đức Sơn không nói năng ǵ được. Bà lăo bèn chỉ cho đến tham khán Long Đàm.

Vừa bước qua ngưỡng cửa Đức Sơn đă nói, “ Lâu nay nghe tiếng Long Đàm, song khi đến đây chẳng thấy hồ (đàm) mà cũng chẳng thấy rồng(long) hiện.Long Đàm ḥa thượng từ sau b́nh phong bước ra, nói,” Ông quả thật đến Long Đàm”. Đức Sơn bèn cúi lạy rồi lui. Đêm ấy vào pḥng của Long Đàm đứng hầu măi đến khuya. Long Đàm nói, “ Tại sao Thầy chưa lui đi?” Đức Sơn chào rồi vạch màn bước ra, thầy bên ngoài trời tối bèn quay vào nói, “ Bên ngoài tối quá”.Long Đàm bèn thắp đèn giấy rồi đưa cho Đức Sơn, Đức Sơn vừa tiếp lấy, Long Đàm thổi tắt đèn. Đức Sơn hoát nhiên đại ngộ.Lập tức cúi lạy. Long Đàm nói, “Ông thấy được ǵ mà ông cúi lạy vậy?” Đức Sơn nói, “ Từ rày trở đi kẻ hèn này không c̣n giám nghi ngờ những ǵ các lăo ḥa thượng trong thiên hạ nói nữa.”

Hôm sau Long Đàm thượng đường nói, “ Trong các ông có một gă răng như rừng kiếm, miệng như bát máu, dù có lấy gậy đập đi nữa cũng không quay đầu. Ngày sau gă sẽ lên đỉnh cao mà lập đạo ta ở đó.” Đức Sơn bèn đem sớ sao ra trước Pháp đường, dơ cao ngọn đuốc lên nói, “ Nghiên cứu các biện luận huyền ảo, thật ra cũng chẳng khác ǵ đặt một sợi lông vào hư không; xét tận các quan kiện cốt yếu, lại chỉ giống như nhỏ một giọt nước vào thung lũng lớn.” Rồi đốt hết đi.

Sau đó nghe nói giáo lư của Qui Sơn đang thịnh, mới đến nơi để gặp Qui Sơn với tư cách là người thông hiểu Thiền. Không buồn cởi hành trang, Đức Sơn bước thẳng vào Pháp đường, đi từ tây qua đông rồi từ đông qua tây, nh́n chung quanh nói, “Vô, vô”.Rồi bỏ ra ngoài. Thử nói xem ư của Thầy ta là thế nào? Phải chăng thầy ta điên? Nhiều người hiểu lầm bảo rằng đó là cách kiến lập của Đức Sơn, song không đúng chút nào. Thầy Đức Sơn nầy mới thật là kỳ đặc, cho nên mới có lời nói, “ Xuất chúng phải là tay hảo hán, thắng địch là chuyện sư tử con. Tuyển Phật mà không có mắt này, dù cho ngàn năm làm được chi?” Đến chổ này hẳn phải là một người thông thạo lắm mới nh́n thấy được. Tại sao vậy? Phật Pháp chẳng có ǵ là phức tạp, làm sao có thể đem t́nh trần đến mà so đo được? Đó chính là tâm cơ của Đức Sơn, sao mà có lắm lao nhọc như thế . Cho nên Huyền Sa mới nói, “ Cho dù là có giống như bóng trăng trong hồ thu, tiếng chuông trong đêm vắng, khua sóng chẳng làm tan,lúc nào gơ là kêu, song vẫn là việc của bờ bên này sinh tử. Đến chổ này rồi th́ không có được mất,thị phi, cũng chẳng có kỳ đặc kỳ diệu. Đă thế th́ làm sao hiểu được việc-Đức Sơn đi từ tây qua đông rồi lại từ đông qua tây. Thử nói xem ư của thầy ta là ǵ?

Lăo hán Qui Sơn chẳng them đếm xỉa Đức Sơn nếu như không phải là người như Qui Sơn hẳn thế nào cũng bị Đức Sơn bẻ găy rồi. Nh́n xem Qui Sơn là tay thông thạo, chỉ ngồi yên đó mà xem thành bại. Nếu như Qui Sơn không nh́n thấu được ngọn gió thổi đến kia, làm sao mà thầy ta có thể đương đầu với vấn đề như thế được. Tuyết Đậu phê b́nh một lời rằng, “ Khám phá ra rồi.” Đây giồng như thể một thanh sắt. Tăng chúng gọi như vậy là, “trước ngữ”, tuy ở hai bên song lại không trụ bên nào cả. Phải hiểu lời thầy ta nói, “khám phá ra rồi” như thế nào? Chỗ nào là chỗ khám phá? Thử nói xem khám phá Đức Sơn hay là khám phá Qui Sơn?

Đức Sơn bèn bỏ ra ngoài, đến cổng tự viện bèn tự nhủ, “ Không nên thô suất như thế”. Đức Sơn muốn thố lộ tim gan ngũ tạng để cùng Qui Sơn “ pháp chiến” một trận, cho nên mới lại đầy đủ uy nghi trở vào Qui Sơn một lần nữa. Lúc Qui Sơn ngồi đó, Đức Sơn dơ tọa cụ lên nói, “ Ḥa thượng!” Qui Sơn toan với lấy phất trần, Đức Sơn bèn hét rồi rũ áo bỏ đi. Kỳ đặc hết sức!

Nhiều người trong tăng chúng nói rằng Qui Sơn sợ Đức Sơn. Nói vậy th́ có ǵ là nhằm nḥ? Qui Sơn chẳng hề vội vă. Cho nên cổ nhân nói, “ Người có trí hơn chim th́ bắt được chim, có trí hơn thú th́ bắt được thú, có trí hơn người th́ bắt được người. Ai tham thấu được vấn đề này của Thiền, th́ cho dù là tất cả cây cỏ rừng rậm người vật hoa quả sâm la vạn tượng trong trời đất cùng một lúc hét lên, gă cũng chẳng buồn màng tới. Dù cho có lật đổ giường thiền, hét tan đại chúng, gă cũng chẳng buồn màng tới. Cao như trời , rộng như đất. Nếu như mà Qui Sơn không có khả năng bẻ găy miệng lưỡi của tất cả thiên hạ th́ lúc ấy hẳn việc thử thách Đức Sơn đâm ra khó khăn lắm. Nếu như Qui Sơn không phải là thiện tri thức của một ngàn năm trăm người, th́ đến lúc đó hẳn đă không phân giải được. Song Qui Sơn là loại người trù tính kế hoạch trong trướng mà đạt được chiến thắng ngoài ngàn dặm.

Đức Sơn quay lưng về Thiền Đường, mang dép cỏ rồi bỏ đi.Thử nói xem, ư của thầy ta là ǵ? Đức Sơn thắng hay bại? C̣n Qui Sơn như thế là thắng hay bại? Tuyết Đậu phê b́nh, “ Khám pháp ra rồi” Đó là thầy ta nỗ lực để nh́n thấu hoa ngôn cùng cực của cổ nhân.Như vậy thầy ta mới đúng là kỳ đặc. Tuyết Đậu nói, “khám phá ra rồi”, hai lần, chia thành ba đoạn. Lúc ấy mới giải rơ công án. Tuyết Đậu cũng giống như kẻ bàng quan phán đoán hai người kia.

Sau đó lăo hán Qui Sơn vẫn cứ tà tà, măi tối đến mới hỏi vị thủ ṭa, “ Cái người vừa rồi mới tới ở đâu rồi?” Thủ ṭa nói, “ Lúc ấy ông ta quay lưng về Pháp đường, mang dép cỏ vào rồi bỏ đi.” Qui Sơn nói, “ Người ấy sau này thế nào cũng lên đỉnh cao tự xây am cỏ mà tiếp tục bài Phật bang tổ.” Thử nói xem ư của thầy ta như thế nào? Lăo hán Qui Sơn không phải là hảo tâm đâu. Đức Sơn sau này tha hồ mà bài Phật bang Tổ, đánh mưa đánh gió, song thầy ta vẫn chẳng rời khỏi hang động của ḿnh. Nghề nghiệp một đời của Đức Sơn bị Qui Sơn nh́n thấu cả. Ở đây có thể nói rằng Qui Sơn thụ kư cho Đức Sơn được chăng? May có thể nói là đầm lớn giấu được núi, chồn khắc phục được báo? May thay, những cái này chẳng có ǵ nhằm nḥ đến vấn đề cả.

Tuyết Đậu hiểu cái cốt yếu của công án này,cho nên mới dám phán đoán cho người khác nói rằng, “ Thêm sương lên tuyết”. Nêu một lần nữa cho người khác xem. Nếu như ai thấy được, người ấy thật là ngang hàng với Qui Sơn, Đức Sơn và Tuyết Đạu. Nếu như không thấy được, cũng chớ có gượng ép giải thích theo ư riêng.

TỤNG:

Một khám phá

Hai khám phá

Thêm sương lên tuyết,

Phi Kỵ tướng quân vào trại địch,

C̣n được an toàn có mấy kẻ?

Vội đi qua,

Không buông tha,

Trên đỉnh cô đơn ngồi trong cỏ.

Ôi!

B̀NH: Tuyết Đậu tụng một trăm tắc công án, từng tắc một thắp hương mà nêu. Cho nên những bài tụng ấy rất được lưu hành trên đời. Thầy ta rành văn chương , thông hiểu công án. Bao giờ cũng suy nghĩ chín chắn rồi mới hạ bút. Tại sao lại thế? Rồng rắn dễ phân, lừa tăng lại khó. Tuyết Đậu tham thấu nhân duyên này, viết ba câu phê b́nh ở những chỗ gay go khó hiểu nhất. Rồi toát yếu lại mà làm tụng.

“Thêm sương trên tuyết” gần như rơi vào nguy hiểm. C̣n Đức Sơn th́ như thế nào? Giống như Phi ky Tướng Quân vào trại địch, tức là Lư Quảng thiện xạ đượcvua phong làm Phi Kư Tướng Quân. Sau  khi đánh giặc, bị người Phiên bắt, toan cho ngựa xé.Quảng giả chết. Nửa đường len lén mở mắt, thấy tên lính canh trong tay có cung tên, bèn tung ḿnh đoạt cung tên trong tay tên lính canh trong tay có cung tên, bèn tung ḿnh đoạt cung tên trong tay tên lính canh, bắn chết tên lính canh. Rồi đoạt ngựa mà tẩu thoát. Bọn giặc tiếp tục đuổi theo, bị Quảng giương cung bắn chết một tên , giặc sợ quá bèn lui. Gă hán tử này có khả năng sống lại từ cơi chết. Tuyết Đậu dẫn tích này trong tụng để so sánh với việc Đức Sơn trở lại gặp Qui Sơn, giống như thể Lư Quảng lại được trở về Hán, và lại cũng nhảy ra lại như xưa.

Nh́n xem người xưa thấy rốt ráo, hành rốt ráo dụng rốt ráo; quả thật là anh hùng. Phải có cái tài giết người không chớp mắt th́ mới có thể lập tức thành Phật được. Chỉ có người lập tức thành Phật, giết người không chớp mắt mới có phần tự do tự tại. Như người bây giờ bị hỏi, mới đấu th́ c̣n có vẻ khí khái của tăng sĩ, song chỉ hỏi dồn một chút, là lập tức bụng mềm chân nhuyễn, lúng ta lúng túng, thiếu hẳn sự liên tục. Cho nên cổ nhân nói,”Tương tục là vấn đề rất khó”. Hăy nh́n Đức Sơn Qui Sơn Hành xử, phải chăng kiến giải của họ luộm thuộm vụng về?C̣n được an toàn có mấy kẻ? Vội đi qua” Đức Sơn hét bỏ đi, giống như Lư Quảng bày kế đoạt cung sau khi bị bắt, bắn chết tên lính gác người Phiên, mà trốn thoát khỏi trại giặc. Tuyết Đậu tụng chỗ này quả là có công phu.

Đức Sơn quay lưng về Pháp đường, mang dép cỏ vào rồi bỏ đi. Có người nào bảo thầy ta thắng thế, đâu có biết rằng lăo hán ( Qui Sơn) này vẫn như trước đâu có chịu buông tha thầy ta? Tuyết Đậu nói. “ Không buông thá”. Tối đến Qui Sơn hỏi vị thủ ṭa, “ Người vừa rồi mới đến đâu rồi?”Thủ ṭa nói, “ Lúc ấy ông ta quay lưng về Pháp đường, mang dép cỏ vào rồi bỏ đi.” Qui sơn nói. Người ấy sau này thế nào cũng lên đỉnh cao tự xây am cỏ mà tiếp tục bài Phật bang Tổ.” Qui Sơn chịu buông tha Đức Sơn bao giờ? Dù sao Đức Sơn cũng kỳ đặc hết sức. Đến chỗ này tại sao Tuyết Đậu lại nói, “ Trên đỉnh cô đơn ngồi trong cỏ?” Xong rồi lại hét? Thử nói xem , ư của thầy ta là ở chổ nào? Tham Thiền thêm ba mươi năm nữa đi.
 
 

TẮC THỨ NĂM

HẠT GẠO CỦA TUYẾT PHONG

THÙY: Kẻ muốn giữ ǵn tông môn của chúng ta hẳn phải là một bậc anh hùng hảo hán, có cái khả năng giết người không chớp mắt, mới có thể lập tức thành Phật được.Cho nên quán chiếu và dụng đồng thời, cuộn mở ḥa hợp, lư sự không hai, quyền thực tịnh hành. Bỏ qua một cái ,lập tức kiếp lập nghĩa thứ hai. Nếu như cắt phăng ngay hết những dây dưa, kẻ hậu học sơ cơ, khó có chỗ mà bám víu. Hôm qua như vậy, vấn đề không thể tránh được. Hôm nay mà cũng như thế, th́ sai lầm đầy trời. Nếu như là người mắt sáng, chẳng thể bị lừa chút nào. Nếu không như thế, thực chẳng khác ǵ nằm trong miệng hổ, khó mà không tán thân thất mạng. Thử nêu lên cho quí vị xem.

CỬ: Tuyết Phong dạy chúng nói rằng: “ Gom cả trời đất lại, chỉ lớn bằng một hạt gạo. Ném xuống trước mặt, nếu vẫn mê mờ không hiểu tôi sẽ đánh trống mời tất cả mọi người đến xem.

B̀NH: Trường Khánh hỏi Vân Môn, “ Tuyết Phong nói như thế, c̣n có chỗ nào không xuất đầu lộ diện được không?” Vân Môn nói, “ Có”.Trường Khánh hỏi, “Tại sao?” Vân Môn nói, “Không phải lúc nào cũng có thể có cái kiến giải của dă hồ tinh được.” Vân Phong nói, “ So với trên th́ không đủ, so với dưới th́ có đủ. Để tôi thêm dây dưa cho các ông vậy.” Đưa gậy lên nói, “ C̣n thấy Tuyết Phong không? Lệnh vua khá nghiêm, không cho phép người ta cướp phá ngoài chợ.” Đại Qui Triệt nói “Để tôi thêm bùn lên đất cho các ông.” Dơ gậy lên nói, “ Nh́n ḱa nh́n ḱa, lăo Tuyết Phong đang ỉa ngay trong mặt các ông. Ôi , tại sao các ông không ngửi thấy mùi cứt thối?”

Tuyết Phong dạy chúng nói, “Gom cả trời đất lại, chỉ bằng một hạt gạo.” Cổ nhân tiếp vật lợi sinh, có những chỗ đặc biệt hết sức. Không bao giờ màng gian khổ, ba lần lên núi Đầu Tử, chín lần đến núi Động Sơn. Đến chỗ nào cũng bầy thùng đen môi gỗ làm đầu bếp chỉ với ư định thấu rơ việc này mà thôi. Khi đến với Động Sơn cũng làm đầu bếp. Một hôm Động Sơn hỏi Tuyết Phong, “ Thầy làm ǵ vậy?” Tuyết Phong nói, “ Vo gạo” Động Sơn nói, “ Vo hết gạo hay là vo hết cát?”. Tuyết Phong nói, “ Cát với gạo đều vo hết.” Động Sơn nói, “ Vậy th́ đại chúng ăn cái ǵ?” Tuyết Phong bèn lật úp chậu. Động Sơn nói, “ Chú có duyên với Đức Sơn”.Rồi dạy đến gặp Đức Sơn.

Vừa đến nơi Tuyết Phong đă hỏi, “Kẻ học nhân này có phần ǵ trong việc truyền thừa của tông phái từ xưa chăng?” Đức Sơn lấy gậy đánh Tuyết Phong rồi nói, “Nói cái ǵ vậy?” Nhờ đó mà Tuyết Sơn thức tỉnh. Sau bị kẹt tuyết trên Ngao Sơn, Tuyết Phong nói với Nham Đầu, “ Lúc tôi bị ăn gậy của Thầy Đức Sơn, tôi có cảm giác giống như thể cái thùng bị đập lũng đáy”. Nham Đầu hét nói, “ Bộ ông không nghe nói cái ǵ từ ngoài cửa vào chẳng phải là gia bảo trong nhà sao? Phải là cái ǵ tự chính trong ḷng ḿnh tuôn ra bao trùm cả trời đất, lúc ấy mới có phần nào khế hợp.” Tuyết Phong hốt nhiên đại ngộ, cúi lạy nói, “ Sư huynh, hôm nay đúng là đệ thành đạo trên Ngao Sơn.”

Người thời nay nói rằng cổ nhân bày đặt ra cái ǵ đó để làm qui củ cho người đời sau. Nói như vậy  chỉ là phỉ bang vổ nhân mà thôi, như thế cũng chẳng khác ǵ là thân Phật chảy máu. Cổ nhân không cẩu thá giống như người thời nay, làm ǵ mà chịu suy tầm một lời hay nửa câu suốt cả đời? Cho nên đối với chuyện phù tŕ tông môn, liên tục thọ mạng của Phật, cổ nhân chỉ thốt ra một lời hay nửa câu, cũng đủ làm cho cả thiên hạ cứng họng. Không có chỗ để cho các ông suy nghĩ, cảm tưởng , hay đương đầu với đạo lư. Thử xem cách Tuyết Phong dạy chúng. V́ thầy ta từng gặp gỡ các người thông thạo cho nên thầy ta cũng có búa kềm của tay thông thạo. Mỗi khi Tuyết Phong thốt ra một lời hay nửa câu, tuyệt nhiên không phải là hoạt kế của bọn quỉ trong hàng dựa vào tâm cơ hay ư thức, Chỉ hiển nhiên là một người siêu qyần bạt tụy. Đoán định tất cả việc cổ kim, không để hở  cho bất cứ một mối nghi nào. Dụng xứ của Tuyết Phong toàn như thế cả.

Một hôm Tuyết Phong dạy chúng rằng, “ Trên Nam Sơn con rắn có mũi rùa, các ông thử đi xem cho kỹ xem.”Lại nói, “ Tất cả trời đất chỉ là con mắt của sa môn, các ông biết đi đâu để ỉa đây?” Lại nói, “Đă gặp các ông ở đ́nh Vọng Châu. Đă gặp các ông ở đ́nh Ô Thạch. Đă gặp các ông ở trước tăng đường.” Lúc ấy Băo Phúc hỏi Nga Hồ, “ Khoan nói đến chuyện trước tăng đường, thế nào là gặp ở đ́nh Vọng Châu và đ́nh Ô Thạch.” Nga Hồ lập tức rảo bước về pḥng. Tuyết Phong thường dùng những lời này mà dạy chúng.

Gom cả trời đất lại chỉ lớn bằng hạt gạo.” Thử nói xem, cốt yếu của vấn đề này có thể so đo được bằng t́nh thức chăng? Cần phải đả phá hết màng lưới, được mất thị phi, một lúc buông bỏ cả. Tự tự tại tại, tự nhiên đi xuyên qua được cái ṿng dây dưa th́ mới thấy được dụng xứ của thầy ta. Thử nói xem, ư của Tuyết Phong ở chỗ nào? Người ta thường hiểu lầm, lấy tri thức cảm quan ra mà hiểu, rồi nói, “ tâm là chủ của vạn pháp,[14]cả trời đất chỉ nằm trong tay ta”. May thay những cái này chẳng có ǵ là nhằm nḥ với vấn đề cả. Đến chỗ này cần phải nh́n suốt tận xương tủy, song không được vướng vào tri thức và ư niệm cảm quan. Nếu như ông là một tăng sĩ có bản lănh, đương nhiên ông sẽ thấy rằng Tuyết Phong  nhất nhất đều v́ người khác cả.

TỤNG: 

Đầu trâu mất

Đầu ngựa hiện

Trong kính Tào khê[15] dứt bụi trần

Đánh trống nh́n xem Ngài chẳng thấy,

Trăm hoa xuân đến nở v́ ai?

B̀NH: Tuyết Đậu đương nhiên thấy cổ nhân kia. Chỉ cần bắt mạch ông ta rồi tụng “đầu trâu mất, đầu ngựa hiện.” Thử nói xem Tuyết Đậu nói cái ǵ vậy? Nếu như thấy được, th́ nó cũng chỉ tầm thường như việc ăn cháo sáng sớm ăn cơm buổi trưa.Tuyết Đậu từ bi,trước tiên một búa đập tan tành hết, rồi đoán định tất cả bằng một câu. Thầy ta đơn độc lừng lững, như đá lửa như điện chớp, không để lộ cái sắc bén của ḿnh, đâu có chổ nào để các ông bám víu. Thử nói xem, các ông có dùng ư căn mà t́m ṭi được chăng? Hai câu này một lúc đă nói lên tất cả.

Ở câu thứ ba, Tuyết Đậu khai thông một đường mới, để lộ chút qui củ, kể như đă rơi vào bụi. Nếu như ông trên lời đặt thêm lời, trên câu đặt thêm câu, trên ư đặt thêm ư, rồi theo đó mà giải thích, th́ không những chỉ làm lăo tăng hệ lụy mà c̣n phụ ḷng Tuyết Đậu nữa. Câu của cổ nhân tuy như thế. Song ư lại không như vậy. Tuyết đậu không bao giờ bày vẽ ra nguyên tắc để trói buộc người ta cả. “ Trong kính Tào Khê dứt bụi trần.” Biết bao nhiêu người so đo nói rằng tĩnh tâm tức là kính. May thay những lời ấy chẳng có ǵ nhằm nḥ với vấn đề cả. Nếu các ông chỉ lo phân biện so đo, biết đến bao giờ mới dứt đây? Đó chỉ là những lời căn bản, sư núi tôi đâu dám không dựa theo căn bản. “Đầu trâu mất, đầu ngựa hiện?” Tuyết Đậu đă nói quá rơ ràng. Chỉ tại người ta không tự hiểu mà thôi. Tuyết Đậu luộm thuộm như thế lại tụng tiếp, “Đánh trống nh́n xem ngài chẳng thấy.” Những kẻ mê mờ c̣n thấy chăng? Tuyết Đậu lại nói với cái ông, “ Trăm hoa xuân đến nở v́ ai?” Có thể nói là thầy ta mở rộng cửa nẻo, vạch rơ ra cho các ông. Khi mùa xuân đến, nơi thung lũng thâm u bên khe suối hoang vu, ở một nơi không người lui tới, trăm hoa đua nở. Thử nói xem, rốt cuộc nở v́ ai?

 

TẮC THỨ SÁU

MỘT NGÀY ĐẸP CỦA VÂN MÔN

CỬ: Vân Môn Đại Sư nói, “ Không hỏi ông về trước ngày mười lăm, sau ngày mười lăm thử nói một câu xem?” Rồi tự trả lời, “ Ngày nào cũng là một ngày đẹp.”

B̀NH: Vân Môn Đại Sư thoạt đầu đến tham kiến Mục Châu. Lối dạy của mục Châu tựa như máy quay điện cuốn, thật khó mà bám víu. B́nh thường cách đón tiếp người khác của Mục Châu là hễ bất cứ ai vừa bước vào là Mục Châu đă nắm lấy rồi nói, “ Nói, nói” Người kia vừa suy nghĩ, Mục Châu đă đẩy ra ngoài nói. “ Cái dùi xoáy thời nhà Tần!” Lúc Vân Môn đến gặp Mục Châu, lần thứ ba mới dám gơ cửa. Mục Châu hỏi “ Ai” Vân Môn nói, “Văn Yển”.Mục Châu vừa hé cửa, Vân Môn đă nhào vào. Mục Châu giữ lại nói, “Nói, nói!” Vân Môn vừa suy nghĩ, bèn bị Mục Châu đẩy ra. Một chân của Vân Môn vẫn c̣n kẹt trong then cửa, Mục Châu đóng sầm cửa lại, làm gẫy mất chân Vân Môn. Vân Môn đau quá hét lên, song lập tức đại ngộ. Sau này những lời Vân Môn nói ra đều giống với Mục Châu. Sau đó Vân Môn c̣n ở trong nhà của Thượng Thư Trần Tháo ba năm.

Mục Châu dạy Vân Môn đến Tuyết Phong . Lúc đến nơi, Vân Môn bước ra khỏi tăng chúng hỏi, “ Phật là ǵ?” Tuyết Phong nói, “Đừng có nói mơ nữa .”Vân Môn bèn cúi lạy. Rồi ở đó ba năm. Một hôm Tuyết Phong hỏi, “Chỗ thấy của ông như thế nào?” Vân Môn nói , “Chỗ thấy của tôi chẳng khác chút nào với chỗ thấy của các bậc thánh thời xưa.”

Ḥa Thượng Linh Thụ suốt hai mươi năm không bao giờ bổ nhậm một vị thủ toà nào. Thường nói, “Thủ ṭa của tôi mới sinh,” và “ Thủ ṭa của tôi đang chăn trâu.” Lại cũng nói, “ Thủ ṭa của tôi đang hành cước.”Bỗng nhiên một hôm ra lệnh cho đánh chuông để tiếp vị thủ ṭa ngoài cửa. Tăng chúng đều kinh ngạc, song quả nhiên Vân Môn đến thật. Linh Thụ bèn mời Vân Môn vào ở trong pḥng dành cho thủ ṭa. Thiên hạ gọi Linh Thụ là Tri Thánh Thiền Sư bởi v́ thầy ta biết trước các việc trong quá khứ cũng như vị lai.

Một hôm người cai trị Quảng Đông là Lưu Vương sắp hưng binh, định đích thân đến tu viện hỏi Sư xem việc ấy có thuận tiện không. Linh Thụ đă biết trước cho nên thảnh thơi ngồi mà mất. Lưu Vương tức  giận nói, “ Ḥa thượng đau từ bao giờ vậy?” Thị giả đáp, “ Thầy chẳng hề đau ǵ cả, chỉ niêm một cái hộp lại và dặn rằng khi nào vương đến th́ tŕnh lên cho vương.” Lưu Vương mở hộp ra thấy một tấm thiệp nói, “ Nhân thiên nhăn mục, chính là vị thủ ṭa trong đường.” Lưu Vương hiểu ư, bèn không hưng binh nữa, và mời Vân Môn ra mặt trụ tŕ ở Linh Thụ. Sau này Sư mới về ở Vân Môn.

Vân Môn khai đường thuyết pháp , có người hỏi, “ Trái cây Linh Thụ đă chín chưa?” Vân Môn nói, “ Có bao giờ ông nghe nói là chưa chín không?”

Một hôm Lưu Vương mời Sư vào trong điện để kiết hạ, cùng với một vài vị tôn túc khác , để giảng giải và thuyết pháp cho các quan viên. Chỉ có ḿnh Sư không nói  ǵ và cũng chẳng có ai gần gũi. Có một vị nội quan làm một bài kệ dán  trên điện rằng, “ Tu hành đại trí mới là Thiền, Thiền cần im lặng không huyên hoa. Vạn lời nói khéo đâu phải thật, sao bằng Vân Môn chẳng nói năng.”

Vân Môn b́nh thường thích nói ba chữ Thiền là “ Quan Sát” (cố), “ Suy Niệm” (giám) và “ Hừ” (di). Lại cũng nói một  chữ Thiền. Có ông tăng hỏi, “ Giết cha giết mẹ th́ sám hối trước Phật, c̣n giết Phật giết Tổ th́ sám hối trước ai đây? Vân Môn nói, “ Lộ”. Lại hỏi, “ Chính Pháp Nhăn Tạng là ǵ?” Vân Môn nói, “Phổ”. Không để cho người ta cơ hội để so đo. Trong các trường hợp thông thường Vân Môn cũng hay mắng người ta. Mỗi khi nói ra một lời, tựa như thể một thanh sắt vậy.

Sau đó dưới trướng của Vân Môn xuất hiện bốn bậc minh triết là Đông Sơn Sơ, Trí Môn Khoan, Đức Sơn Mật, và Hương Lâm Viễn, đều là những bậc đại tông sư. Hương lâm làm thị  giả cho Vân Môn suốt mười tám năm trời. Ngày ngày Vân Môn chỉ gọi, “ Thị giả!” Lúc Hương Lâm nói, “Dạ”. Vân Môn lại nói, “ Cái ǵ đây?” Cứ như thế suốt mười tám năm đến một ngày kia Hương Lâm mới ngộ. Vân Môn nói, “ Từ rày trở đi tôi sẽ không gọi ông nữa.” B́nh thường lúc dạy người khác Vân Môn thường dùng phương pháp của Mục Châu. Có điều hơi khó bám víu, bởi v́ Vân Môn có búa liềm để nhổ đinh bạt chốt. Tuyết Đậu nói, “ Tôi thích các phương pháp mới mẻ của Thiều Dương Lăo Nhân, thầy ta suốt đời chỉ nhổ đinh bạt chốt cho thiên hạ.

Vân Môn đưa ra một vấn đề để dạy chúng, “Không hỏi ông về trước ngày mười lăm, sau ngày mười lăm thử nói một câu xem?” Sư cắt đoạn hết các sai biệt chi li chẳng thông phàm thánh. Rồi lại tự trả lời, “ Ngày nào cũng là một ngày đẹp.” Trước ngày mười lăm,” lời này cũng cắt đứt hết các sai biệt chi li. Có điều Vân Môn không nói rằng sau ngày mười lăm là ngày mười sáu. Người đời sau cứ tha hồ giải thích, song có ǵ là nhằm nḥ? Vân Môn lập tông phong, đương nhiên phải có chỗ v́ người. Vừa dạy xong, lại tự đáp cho mọi người, “Ngày nào cũng là một ngày đẹp.” Lời này thông quá kim cổ, từ trước đến sau trong một lúc đoán định cả.

Sư núi tôi nói năng như vậy, cũng là dựa theo ngôn ngữ mà hiểu. Giết người không bằng tự giết ḿnh. Vừa mới lập nên nguyên tắc là đă rơi vào hố sâu. Trong một câu của Vân Môn đă gom đủ cả ba câu. Đó chính là tông chỉ gia phong của sư. Bất cứ một lời dạy nào của Vân Môn cũng phải được truy về nguồn. Nếu không như thế th́ chỉ vơ đoán mà thôi. Việc này không cần đến nhiều luận thuyết như thế. Nếu như hiểu thấu đương nhiên lạp tức thấy ngay ư chỉ của cổ nhân. Hăy xem Tuyết Đậu bày vẽ dây dưa:

TỤNG:

Bỏ đi một,

Nêu lên bẩy.

Bốn phương trên dưới chẳng ǵ bằng,

Lững thững đạp dứt tiếng nước trong.

Thoáng nh́n thấy rơ vết chim bay,

Cỏ rậm rạp,

Khói bồng bềnh.

Trên vách Không Sinh[16] hoa tơi tả,

Búng thay, thương thay “ thuấn nhă đa.”[17]

Đừng động đậy,

Động đậy ta cho ba chục gậy!

B̀NH: Tuyết Đậu tụng cổ bao giờ cũng được như vậy.Trước tiên bao giờ cũng lấy Kim Cương Bảo Kiếm múa một hồi, sau đó mới để lộ một chút phong qui. Tuy như vậy, song rốt cuộc không thể hiểu theo lối nhị nguyên được.

“Bỏ đi một, nêu lên bảy.” Người ta thường hay hiểu đạo theo con số, nói rằng, “ Bỏ đi một là việc của trước ngày mười lăm.” Tuyết Đậu đột nhiên hạ bút viết hai câu đă ấn phá tất cả, song lại để lộ một chút cho người ta thấy. “ Bỏ đi một, nêu lên bảy”. Điều kỵ nhất là đừng dựa vào ngôn ngữ mà so đo. Tại sao vậy? Bánh khô làm sao có chút nước? Thiên hà phần nhiều rơi vào ư thức. Cần phải hiểu ư nghĩa của vấn đề trước khi ngôn ngữ được thốt ra. Lúc ấy đại dụng hiện tiền tự nhiên là ḿnh sẽ thấy được.

Đó chính là lư do mà Thích Ca Mâu Ni sau khi thành đạo ở nước Ma Kiệt Đà đă bỏ ra hăm mốt ngày để tư duy về vấn đề này. “ Các pháp tịch diệt tướng, không đạt bằng ngôn ngữ. Ta không nên thuyết pháp, mau nhập đạt bằng ngôn ngữ. Ta không nên thuyết pháp, mau nhập Niết Bàn ngay.” Đến chỗ đó rồi th́ ngay cả Đức Thích Ca cũng không có chỗ để mở miệng. Song nhờ ở phương tiện thiện xảo, sau khi thuyết pháp cho năm vị tỳ kheo xong, ngài đă đến ba trăm sáu mươi chúng hội, giải thích giáo lư cho người thời ấy. Tất cả những điều này chỉ là phương tiện, cho nên ngài mới cởi bỏ y phục rách rưới của người hành giả. Bất đắc dĩ mới phải noi theo ư nghĩa công ước của chỗ thiển cận để mà dẫn dụ các ông. Nếu như bảo ngay một lúc nói lên sự thật, hẳn là đă chẳng có đến một người, hay thậm chí nửa người, hiểu nổi.

Thử nói xem thế nào là câu cứu cánh? Đến đây Tuyết Đậu để lộ ra một chút ư nghĩa cho người khác thấy. Các ông chỉ cần ở trên đừng thấy có chư Phật, ở dưới đừng thấy có chúng sinh, bên ngoài chẳng thấy có sơn hà đại địa, bên trong chẳng thấy có kiến văn giác tri, lúc ấy ông sẽ giống như người chết đi sống lại. Với tốt xấu sẽ chẳng c̣n thấy chúng là khác nhau nữa. Sau đó các ông tha hồ ung dung mà không mất quân bằng.Lúc ấy mới hiểu được lời của Tuyết Đậu rằng, “ Bỏ đi một, nêu lên bẩy. Bốn phương trên dưới chẳng ǵ bằng.” Nếu như hiểu thấu được câu tụng này, th́ quả thật là bốn phương trên dưới chẳng có ǵ so nổi. Sâm la vạn tượng, cây cỏ thú người, mọi vật đều phản ảnh gia phong của ḿnh mà thôi. Cho nên mới có lời nói, “Ở trong vạn tượng riêng lộ thân, chỉ kẻ tự tin mới là gan. Năm xưa lầm lẫn lang thang kiếm, ngày nay nh́n thấy lửa trong băng.” Thiên thượng thiên hạ duy ngă độc tôn.” Đa số người ta chỉ theo đuổi ngọn mà quên mất gốc. Phải đạt được cái mốc một cách chính đáng, lúc ấy tự nhiên gió thổi cỏ rạp, nước tới sông dâng. “ Lững thững đạp dứt tiếng nước trong.” Lúc ấy dù đi lững  thững cũng có thể đạp dứt tiếng nước cả. “ Thoáng nh́n thấy rơ vết chim bay.” Đưa mắt thoáng nh́n,  dù cho đó là vết chim bay, cũng thấy rơ ràng như thể có vẽ ra. Đến mức độ này rồi th́ “ thổi tắt ngọn lửa dưới vạc dầu, rừng kiếm núi đao đều găy tan,” chẳng có ǵ là khó.

Đến chỗ này rồi, Tuyết Đậu v́ ḷng từ bi, sợ thiên hạ lại vướng vào cái ṿng dững dưng, cho nên lại nói tiếp, “ Cỏ rậm rạp, khói bồng bềnh. Thử nói xem đây là cảnh giới của ai? Có thể gọi là ngày nào cũng là một ngày đẹp đưọc không? May thay mà điều này chẳng có ǵ là nhằm nḥ. Đến lúc “ lững thững đạp dứt tiếng nước trong” cũng không phải, mà “ thoáng nh́n thấy rơ vết chim bay” cũng không phải, mà “ thoáng nh́n thấy rơ vết chim bay” cũng không phải; “ cỏ rậm rạp” cũng không phải, “khói bồng bềnh” cũng không phải. Chẳng có cái ǵ là phải cả. Lúc ấy chính là “ trên vách không sinh hoa tơi tả” Song cũng c̣n cần phải qua phía bên kia mới được. Như Tư Bồ Đề tránh nơi ồn ào t́m chốn yên tĩnh, vào trong hang tĩnh tọa, chu thiên rải hoa xuống tán thán. Tu Bồ Đề hỏi, “Ai vậy?” Một trong chư thiên nói, “ Tôi là trời Đế Thích.” Tu Bồ Đề Hỏi, “ Ngài tán thán cái ǵ vậy?” Đế Thích nói, “ Tôi trọng tôn giả khéo giảng Bát Nhă Ba La Mật.” Tu Bồ Đề nói, “ Tôi chưa từng nói một chữ nào về Bát Nhă, tại sao ngài tán thán?” Đế Thích nói, “ Tôn giả không có nói, tôi không có nghe. Không nói không nghe, đó chính là Bát Nhă chân thật. Rồi lại làm mặt đất rung chuyển, rải hoa xuống nữa.

Tuyết Đậu cũng có một bài tụng để nói về vấn đề này, “Mưa tạnh mây tan trời nửa sáng, mấy đỉnh chót vót như bích họa. Không Sinh chẳng biết ngồi trông hốc,khiến cho đất động hoa trời rơi.” Đế Thích đă làm cho mặt đất rung chuyển và hoa trời rơi xuống. đến mức đó rồi biết ẩn trốn ở đâu đây? Tuyết Đậu lại nói, “ Ta sợ có trốn cũng không được, cơi ngoài trời đất đầy ăm ắp. Mơ mơ hồ hồ bao giờ dứt, tám phương gió mát mơn tà áo.” Dù cho ông có sách sẽ trơn tru, không một chút lỗi lầm âu lo, cũng vẫn chưa phải là chỗ cùng cực. Rốt cuộc th́ thế nào mới là cùng cực. “ Búng tay thương thay thuấn nhă đa.” “ Thuấn nhă đa” là chữ Phạn có nghĩa là tinh thần của hư không, lấy hư không làm thể, không có thân thể hữu h́nh để xúc chạm. Lúc Phật quang chiếu mới hiện rơ thân hữu h́nh. Lúc nào ông đạt được “ thuấn nhă đa” RỒI, Tuyết Đậu sẽ búng tay mà thở than. Tuyết Đậu lại nói, “Đừng động đậy!” Động đậy th́ như thế nào? Giống như giữa thanh thiên bạch nhật, mở mắt mà ngủ.
 
 

TẮC THỨ BẢY

HUỆ SIÊU HỎI VỀ PHẬT 

THÙY: Trước tiếng một câu, ngàn thánh không truyền. Chưa thấy rơ ra, như xa ngàn cơi. Dù cho ông có phân biện được nó trước khi có âm thanh thốt lên, làm tất cả thiên hạ phải líu lưỡi, ông vẫn chưa phải là một tay sắc bém. Cho nên mới nói rằng , “ Trời không che hết, đất không chở nổi. Hư không không chứa nổi, trời trăng không chiếu được.”Chỗ không có Phật, ḿnh được tôn xưng,mới bắt đầu một sợi lông, phóng đại quang minh, tung hoành ngang dọc, tự tại trong sự vật, bất cứ cái ǵ đụng tay vào, không có cái ǵ là không phải. Thử nói xem, đạt được cái ǵ mà lại kỳ đặc như thế? Lại nói, “Đại chúng có hiểu không?” Ngựa mệt thuở trước không ai biết, chỉ nói công lao chum cả trời. Bây giờ tạm gác việc này qua một bên, công án của Tuyết Đậu th́ như thế nào? Xin thử nêu lên xem.

CỬ: Có ông tăng ( Huệ Siêu) hỏi Pháp Nhăn, “Huệ Siêu xin hỏi ḥa thượng , Phật là ǵ?” Pháp Nhăn nói, “Chú là Huệ Siêu.”

B̀NH: Pháp Nhăn có khả năng vừa đập vừa mổ, và lại biết sử dụng cái khả năng này cho nên mới đáp như thế được. Đó chính là siêu việt qua thanh sắc, đắc đại tự tại, túng đoạt sinh sát ǵ là ở nơi ḿnh cả. Thầy ta quả thật là đặc sắc. Người ở các nơi bàn luận về công án này rất nhiều, số người lấy tri thức cảm quan ra hiểu nó cũng không phải là ít. Đâu có biết là mỗi khi cổ nhân dạy một câu hay một lời đều tựa như đá lửa điện chớp, mở thẳng ra một con đường chính.

Người đời sau chỉ dựa vào ngôn ngữ mà hiểu. Có kẻ nói, “ Huệ Siêu chính là Phật cho nên Pháp Nhăn mới trả lời như thế.” Có người nói, “giống như thể đang cưỡi trâu mà lại đi t́m trâu.” Cũng có người nói, “ Chính câu hỏi là vấn đề.” Những điều này có ǵ là nhằm nḥ? Nếu hiểu như thế th́ không những là tự phụ bạc ḿnh mà c̣n làm khuất khúc cổ nhân biết mấy. Nếu như muốn thấy được trọn vẹn khả năng của Pháp Nhăn, ông phải là loại người bị đánh một gậy cũng không quay đầu, có răng như rừng kiếm miệng như bát máu, biết t́m lối về bên ngoài ngôn ngữ, th́ mới có phần nào khế hợp. Nếu như ái nấy đều hiểu theo tri thức thường t́nh, th́ cả trời đất này chỉ toàn là những kẻ làm diệt mất ḍng dơi của Phật. C̣n như Huệ Siêu giác ngộ ở đây, ấy là nhờ thầy ta lúc nào cũng quán chiếu tham cứu, cho nên chỉ nghe một lời là đă có thể như cái thùng bị đập lủng đáy.

Cũng như ông tăng giám  viện Tắc tuy ở trong chúng hội của Pháp Nhăn song chưa từng xin nhập thất. Một hôm Pháp Nhăn hỏi ông ta, “ Tại sao viện chủ không nhập thất?” Tắc đáp, “ Ḥa thượng không biết là hồi ở với Thanh Lâm đệ tử có chứng được đôi chút sao?” Pháp Nhăn nói, “Ông thử kể lại cho tôi nghe xem.” Tắc nói, “Đệ tử hỏi Phật là ǵ?” Thanh Lâm nói “Bính Đinh đồng tử đến xin lửa.”Pháp Nhăn nói , “Lời hay lắm song tôi e rằng ông hiểu lầm. Thử nói ǵ nữa xem sao.” Tắc nói, “ Bính Đinh là lửa, lấy lửa mà đi t́m lửa. Cũng như đệ tử đă là Phật rồi lại c̣n đi t́m Phật”.Pháp Nhăn nói, “ Quả nhiên là giám viện hiểu lầm rồi.” Tắc không vui mới thu dọn hành trang bỏ qua sông. Pháp Nhăn nói “ Người này nếu trở lại th́ c̣n cứu được, nếu không trở lại th́ không cứu được nữa.” Đến giữa đường Tắc tự suy gẫm: “ người này là bậc thiện tri thức của năm trăm người, chẳng lẽ ông ta lại lừa ḿnh sao?” Bèn trở lại, vào tham kiến Pháp Nhăn. Pháp Nhăn nói, “Ông cứ hỏi đi, tôi sẽ trả lời cho.” Tắc hỏi, “Phật là ǵ?”Pháp Nhăn nói, “Bính Đinh đồng tử đến xin lửa.”Nghe lời ấy Tắc bèn đại ngộ.

Thời buổi này có những kẻ trợn mắt làm như là hiểu. Cũng như câu nói: “không có vết thương đừng gây thương tích.” Loại công án này đối với những người có tham thiền từ lâu th́ chỉ vừa mới nêu lên là đă hiểu ngay cốt yếu của nó. Trong ḍng Thiền của Pháp Nhăn gọi loại công án này là “ tiễn phong tương trụ” (đầu mũi tên nhọn gặp nhau)[18].Họ không sử dụng phương pháp “ ngũ vị quân thần”[19]hay “tứ liệu giản”[20], mà chỉ nói về “tiễn phong tương trụ.” Đó chính là gia phong của Pháp Nhăn, trong một lời có thể thấy ngay hiểu ngay. C̣n nếu như đi t́m trong ngôn ngữ rốt cuộc chẳng biết đâu mà rờ[21].

Pháp Nhăn ra mặt với đời đồ chúng có đến năm trăm người. Lúc ấy Phật pháp hưng thịnh vô cùng Thiều Quốc Sư thamhọc với Sơ Sơn đă lâu, tự cho là đắc ư chỉ của Sơ Sơn. Cho nên mới thu thập tất cả văn chương cùng với di ảnh của Sơ Sơn lănh đạo một số đồ chúng đi hành cước. Đến nơi của Pháp Nhăn, chính Thiều không bao giờ nhập thất mà chỉ dạy cho đồ đề của ḿnh túy theo những người khác mà nhập thất. Một hôm Pháp Nhăn thượng đường, có ông tăng hỏi, “ Thế nào là một giọt nước từ Tào Khê?” Pháp Nhăn nói, “ Th́ là một giọt nước từ Tào Khê.” Ông tăng hoang mang thối lui. Thiều Quốc Sư cũng có mặt trong chúng hộ, nghe thấy lời ấy hốt nhiên đại ngộ. Sau đó xuất hiện trên đời với tư cách là người thừa tự của Pháp Nhăn. Từng tŕnh bày bài tụng rằng, “Đỉnh núi thông huyền , không phải nhân gian. Ngoài tâm không pháp, đầy mắt núi xanh.” Pháp Nhăn ấn khả rằng, “ Chỉ một bài tụng này thôi tự nhiên cũng đủ thừa lế tông phái của ta. Sau này thế nào ông cũng được các bậc vương hầu kính trọng, ta không bằng được ông”.

Hăy nh́n các bậc cổ nhân đạt giác ngộ như thế, rốt cuộc là ǵ vậy? Bảo sư núi tôi nói cho các ông đâu có đủ mà các ông cần phải tự ḿnh suốt ngày tôi luyện tinh thần. Nếu các ông có thể đảm đương được như vậy, sau này các ông có thể thỏng tay v́ người nơi ngă tư đường mà chẳng thấy ǵ là khó.

Cho nên khi ông tăng kia hỏi, “ Huệ Siêu xin hỏi ḥa thượng Phật là ǵ?” Pháp Nhăn nói, “ Chú là Huệ Siêu.” Pháp Nhăn có chút ǵ phụ ḷng ông tăng đâu? Không nghe Vân Môn nói sao? “ Nếu không xét, tức sai lầm. Toan so đo, đời nào ngộ?” Tuyết Đậu tụng hiển hách thật. Thử nêu lên xem!

TỤNG: 

Giang quốc gió xuân thổi không lên,

Chim sáo hót trong bụi hoa sầu.

Ba bực sóng cao cá hóa rồng,

Kẻ mê vẫn múc nước hồ đêm.

Tuyết Đậu đúng là tay thông thạo. Những cái khó nhai khó nuốt, khó thâu khó nhập của cổ nhân, thầy ta đều tung ra cho người khác thấy, kỳ đặc hết sức. Đă biết được then chốt của Pháp Nhăn lại nắm được cả cốt yếu của Huệ Siêu.Lại sợ người đời sau hiểu lầm lời lẽ của Pháp Nhăn, cho nên mới tụng ra. Ông tăng kia hỏi như vậy, Pháp Nhăn đáp như vậy, chính là “ giang quốc gió xuân thổi không lên, chim sáo hót trong bụi hoa sâu.” Hai câu này chỉ là một câu. Thử nói xem, ư của Tuyết Đậu là ở đâu. Giang Tây Giang Nam thường có hai lối hiểu, cho nên nói “ Giang quốc gió xuân thổi không lên” là để tụng câu “ chú là Huệ Siêu.” C̣n “chim sáo hót trong bụi hoa sâu” là để tụng các lời bàn tán huyên hoa của các phương, giống như thể tiếng chim sáo hót trong bụi hoa sâu. Song chẳng có ǵ là nhằm nḥ cả. Đâu có biết rằng hai câu này của Tuyết Đậu chỉ là một câu. Không muốn có chỗ sơ hở nào cho nên mới nói với các ông, ngôn ngữ đă đến cùng cực, bao trùm trời đất. Ông tăng kia hỏi Phật là ǵ. Pháp Nhăn nói, “ chú là Huệ Siêu” Tuyết Đậu nói, “ Giang quốc gió xuân thổi không lên, chim sáo hót trong bụi hoa sâu.” Nếu vào được chỗ này th́ có thể lững thững lên trời cao.Nếu như ông dùng tri thức cảm quan mà hiểu th́ ba đời sáu mươi kiếp cũng không xong.

Câu thứ ba và câu thứ tư của Tuyết Đậu quả là từ bi cùng tột v́ người khác mà một lúc nói toạc ra. Siêu Thiền Sư nghe câu nói mà đại ngộ tức là “ba bực sóng cao cá hóa rồng, kẻ mê vẫn múc nước hồ đêm.” Cửa Vũ ba bực sóng, Mạnh Tân tức là Long Môn, Vũ Đế đục làm ba bực, ba ngày ba tháng. Lúc hoa đào nở, trời đất cảm ứng, có con cá vượt qua Long Môn trên đầu mọc sừng bờm râu tua bủa. cưỡi mây mà đi.Những con cá không nhảy qua sóng được th́ bị điểm lên đầu mà trở về. Kẻ mê mờ lo nhai ngôn ngữ, giống y như là tát nước hồ ban đêm để bắt cá vậy. Đâu có hay rằng cá đă biến thành rồng đi mất hút rồi. Đoan ḥa thượng tụng, “ Một đồng tiền Đại Quang,mua được cái bánh rán. Ăn vào tới trong bụng lập tức không đói nữa.” Bài tụng này kỳ diệu lắm, chỉ có điều hơi vụng về. Tuyết Đậu tụng thật vi diệu, cho nên không bị mũi kiếm đâm vào tay. Giống như Tàng chủ Khánh hỏi, “ Thế nào là “ba bực sóng cao cá hóa rồng”? Tôi cũng chẳng quan tâm, có điều tôi muốn hỏi ông ,hóa thành rồng rồi bây giờ ở đâu?
 
 

TẮC THỨ TÁM

THÚY NHAM DẠY ĐỒ CHÚNG CUỐI HẠ

THÙY: Nếu ông hiểu được ông có thể sử dụng nó trên đường, tựa như rồng gặp nước, cọp trên núi. Nếu không hiểu được, sự thật công ước vẫn áp đảo ông, ông giống như con dê non húc rào, kẻ ngổi gốc cây đợi thỏ. Có lúc một câu như sư tử ngồi xỗm, có lúc một câu như Kim Cương Bảo Vương Kiếm. Có lúc một câu làm hết người trong thiên hạ líu lưỡi, có lúc một câu như đuổi theo sóng cả. Nếu đă có thể sử dụng được nó trên con đường, th́ khi gặp được tri âm ông biết phân biệt được cơ hội thích hợp, phân biệt được đúng với sai, và cùng chứng minh cho nhau. Ở chổ mà sự thật công ước áp đảo, với một con mắt, ông có thể cắt đứt hết mười phương, đứng sừng sững như đỉnh núi ngàn trượng.

Cho nên có câu nói, “Đại dụng hiện tiền, không c̣n qui tắc.” Có lúc coi một cọng cỏ như thân vàng mười sáu trượng (của Phật), có lúc coi thân vàng mười sáu trượng như một cọng cỏ. Thử nói xem bằng vào nguyên lư nào mà nói như thế? Xin thử nêu ra đây.

CỬ: Cuối mùa kiết hạ Thúy Nham dạy chúng rằng, “ Cả một mùa hạ Thuư Nham đă nói chuyện với các huynh đệ. Thử nh́n xem lông mày của Thúy Nham có c̣n không?” Bảo Phúc nói, “ Kẻ làm giặc tâm trống không.” Trường khánh nói, “ Sinh”. Vân Môn nói, “Quan”.

B̀NH: Người xưa học đạo sáng tham thiền chiều hỏi han, không có lúc nào là gián đoạn. Đến cuối hạ Thúy Nham lại dạy chúng như thế, song không khỏi quá đơn độc lừng lững. Quả là kinh thiên động địa. Thử nói xem, cả một kho lớn giáo lư, năm ngàn bốn mươi tám quyển, dù là nói tâm dạy tính, nói đốn nói tiệm, song có việc như vầy chăng? Một là v́ nhân duyên thời tiết, song Thúy Nham quả thực là kỳ đặc. Coi thầy ta ăn nói như thế, thử nói xem ư của thầy ta cốt yếu là như thế nào? Cổ nhân đă buông một lưỡi câu, không  bao giờ là hư giả cả. Luôn luôn có lư do để làm lợi cho người khác. Người ta phần đông hiểu lầm nói, “ Thanh thiên bạch nhật, Thúy Nham nói những lời không đâu vào đâu, không có chuyện ǵ lại vẽ chuyện. Cuối hạ lại tự trách lỗi lầm của ḿnh, để khỏi bị người khác kiểm thảo.” May mà những lời này chẳng có ǵ đúng sự thật. Thứ kiến giải này đúng là diệt hết gịng giống Phật. Các bậc tông sư suốt các thời đại ra mặt với đời nếu không để dạy thiên hà th́ hóa ra thành vô ích cả. Với mục đích ǵ? Đến mức này mà thấy rơ được th́ mới biết rằng cỏ nhân quả là có cái khả năng đắt trâu của thợ cầy, đoạt cơm của kẻ đói. Người đời nay mỗi khi bị hỏi, bèn lo nhai nghiến chữ nghĩa, vin vào lông mày của Thuư Nham. Nh́n xem những người trong nhà của thầy ta hiểu ngay đường đi nước bước của Thúy Nham, thiên biến vạn hóa, chi li rườm rà, bất cứ chỗ nào họ cũng có chổ xuất thân cả. Cho nên họ mới có thể xướng họa như thế với Thúy Nham. Nếu như những lời của Thúy Nham không có ǵ là đăc biệt, th́ việc ǵ mà Vân Môn, Bảo Phúc, Trường Khánh ba người phải ào ào xướng họa với thầy ta như thế?

Trường Khánh nói, “ Kẻ làm giặc tâm trống không? Chỉ lời nói này thôi mà sau này đă gây ra biết bao nhiêu là giải thích theo tri thức cảm quan! Thử nói xem ư của Bảo Phúc là như thế nào? Kỵ nhất là đừng dựa vào ngôn ngữ để t́m ra ư của vị cổ nhân này. Nếu như ông toan đưa ra kiến giải thoe tri thức cảm quan hay định khái niệm hóa, Bảo Phúc sẽ móc mắt ông ra. Đâu có ai biết rằng lúc Bảo Phúc nói ra một “ chuyển ngữ”, là đă cắt đứt mất dấu chân của Thúy Nham rồi.

Trường Khánh nói, “ Sinh”. Thiên hạ thường nói rằng thầy ta theo gót của Thúy Nham, cho nên mới nói “sinh”. May mà điều này chẳng đúng chút nào. Đâu có ai biết  rằng lúc Trường Khánh nói “sinh” là thầy ta đưa ra kiến giải của riêng ḿnh. Người nào cũng có chỗ xuất thân của ḿnh cả. Nhưng mà tôi muốn hỏi ông, chỗ nào là chỗ sinh? Ginốg như thể là đối diện với một tay thành thạo đang múa Kim Cương Bảo Kiếm. Ai có khả năng phá được các kiến giải thông thường, cắt đứt được được mất thị phi, mới có thể thấy được cái chỗ mà Trường Khánh xướng họa với Thúy Nham.

Vân Môn nói, “ Quan” Quả thật là đặc sắc, có điều hơi khó tham thấu. Vân Môn thường dùng phương pháp một chữ Thiền mà dạy người ta, tuy rằng trong một chữ gom đủ cả ba câu. Thử nh́n cách thù xướng đối biện của vị cổ nhân này xem, quả nhiên là khác xa với người thời buổi này. Đây mới đúng là cách để nói ra một câu. Tuy rằng Vân Môn nói như thế, song ư của thầy ta quyết không phải là ở đây. Đă không ở đây, th́ thử nió xem là ở đâu? Nếu như ông là một người mắt sáng,c ó khả năng chiếu cả trời đất, th́ phải lung linh cả tám hướng chứ. Tuyết Đậu xỏ chữ “quan” của Vân Môn cùng với những lời của ba vị kia thành một chuỗi mà tụng ra.

TỤNG: 

Thúy Nham dạy chúng,

Ngàn xưa không đáp.

Chữ “quan” họa lại,

Mất tền thêm tôi.

Bảo Phúc hom hem

Uyển chuyển khó được.

Thúy Nham lăng xăng,

Rơ ràng lạ giặc.

Ngọc trắng không vết,

Ai biết thật giả?

Trường Khánh biết rơ,

Lông mày mọc dài.

B̀NH: Nếu như Tuyết Đậu mà không từ bi như thế, tụng ta cho người khác thấy, th́ làm sao được gọi là thiện tri thức? Cổ nhân hành xử như vậy , nhất nhất đều là cực chẳng đă. Người học Thiền sau này thường hay bám víu vào ngôn ngữ, sinh ra kiến giải theo tri thức cảm quan, cho nên mới không thấy được ư của cổ nhân. Nếu như có một người hốt nhiên bước ra, lật đổ giường Thiền, hét tan đại chúng, ḿnh cũng chẳng trách hắn được.Dù là thế đi nữa, cũng cứ phải thực sự đạt đến mức độ này mới được.

Khi Tuyết Đậu nói, “Ngàn xưa không đáp”, thầy ta chỉ muốn nói rằng nh́n xem lông mày của Thuư Nham có c̣n đó không. Có cái ǵ là đặc sắc đâu mà bảo là xưa nay không ai đáp được? Phải biết rằng cổ nhân mỗi khi thốt ra một lời hay nửa câu tuyệt nhiên không bao giờ sơ hốt đâu…Phải có đôi mắt nh́n rơ càn khôn mới có thể hiểu nổi. Tuyết Đậu nói ra một lời hay nửa câu, giống như Kim Cương Bảo Kiếm, như sư tử ngồi xổm trên mặt đất như lửa tóe ra từ đá lửa, như điện sấm sét. Nếu như không có mắt trên đỉnh đầu, làm sao mà thầy ta có thể thấy được cái cốt yếu của lời nói của Thúy Nham? Lời dạy của Thúy Nham đúng là xưa nay không ai đối đáp được. C̣n hơn cả gậy của Đức Sơn và tiếng hét của Lâm Tế. Thử hỏi xem, chỗ v́ người của Tuyết Đậu là ở chỗ nào? Ông hiểu câu nói, “ ngàn xưa không đáp” này của Tuyết Đậu như thế nào?

“Chữ quan” họa lại, mất tiền thêm tội,” có nghĩa là ǵ? Dù cho ông có đôi mắt nh́n thấu quan này đi nữa, đến chỗ này ông cũng cứ phải trân trọng mới được. Thử nói xem, Thúy Nham mất tiền thêm tội hay là Vân Môn mất tiền thêm tội? Nếu như ông nh́n thấu được, tôi chịu ông là người có mắt đó.

“Bảo Phúc hom hem, uyển chuyển khó được. Phải chăng thầy ta hạ thấp ḿnh? Nâng cao cổ nhân? Thử nói xem, Bảo Phúc hạ thấp chỗ nào nâng cao chỗ nào?” Thúy Nham lăng xăng, rơ ràng là giặc.” Thử nói xem thầy ta trộm cái ǵ mà Tuyết Đậu lại gọi Thầy ta là giặc? Tránh đừng có để bị lời lẽ của thầy ta ràng buộc. Đến mức độ này phải có khả năng riêng của ḿnh th́ mới được.

“Ngọc trắng không vết.” Tuyết Đậu tụng Thúy Nham giống như ngọc trắng không có chút t́ vết. “ Ai biết thật giả?” Có thể nói là rất có ít người phân biết được.Tuyết Đậu đại tài cho nên mới xâu từ đầu tới đuôi thành một chuỗi được. Măi tới khúc cuối mói nói, “ Trường Khánh biết rơ, lông mày mọc dài.” Thử nói xem mọc ở chỗ nào? Mau t́m thử xem!

 

TẮC THỨ CHÍN

BỐN CỬA CỦA TRIỆU CHÂU

THÙY: Gương sáng trên khung, xấu đẹp tự hiện. Gươm quí trên tay, tha hồ sinh sát. Hán đi hồ đến, hồ đến hán đi. Trong chết được sống, trong sống được chết. Thử nói xem, đến mức độ này th́ thế nào? Nếu không có con mắt nh́n thấu quan hay chỗ để chuyển thân, đến mức độ này hiển nhiên người ta chẳng biết phải làm ǵ. Thử nói xem, thế nào là con mắt nh́n thấu quan và chỗ để chuyển thân. Xin thử nêu lên xem.

CỬ: Có ông tăng hỏi Triệu Châu, “ Triệu Châu là ǵ? “ Triệu Châu nói, “Đông môn, nam môn, tây môn, bắc môn.”

B̀NH: Phàm việc tham thiền hỏi đạo là để tự thấy rơ ḿnh, song phải tránh so đđo ngôn ngữ. Tại sao? Há không nghe Triệu Châu tụng cử rằng, “Đạo thật không khó, miễn đừng so đo” sao? Hoặc Vân Môn từng nói, “ Ngày nay những kẻ học thiền, tụm năm tụm ba, huyên thuyên bát sách rằng, “đây là những lời đặc biệt, đây là những lời có liên hệ đến bản thân ḿnh,” Đâu có biết rằng cổ nhân dựa vào phưong tiện thiện xảo, bất đắc dĩ mà lập văn tự ngôn ngữ là chỉ vỉ để dẫn dắt những kẻ hậu học non kém, chưa rơ tâm địa, chưa thấy bổn tính, chưa thoát khỏi chấp trước. Tổ Sư ( Bồ Đề Đạt Ma) từ Tây Trúc qua, chỉ để truyền tâm ấn ( của Phật), chỉ thẳng vào tâm, thấy tính thành Phật, làm ǵ có những cái dây dưa như vầy? Cần phải cắt đứt ngôn ngữ, để đặc biệt thấy sự thật. Có thoát ra khỏi mọi chấp trước, mới như rồng gặp nước, hổ dựa núi được.

Những bậc cổ đức xưa tham Thiền lâu mà chưa thấu, thấu mà chưa sáng,[22]gọi đó là “hỏi thêm”[23]. Nếu như đă thấu mà vẫn hỏi thêm, th́ phải xoay chuyển măi trong ngôn ngữ cho đến khi nào không c̣n trệ ngại nữa. Người đă tham Thiền lâu và vẫn hỏi thêm, ấy là đưa thang cho giặc. Kỳ thực, việc này không ở nơi ngôn ngữ, cho nên Vân Môn mới nói, “ Việc này nếu ở nơi ngôn ngữ , ba thừa và mười hai phần giáo há không phải là ngôn ngữ, cần ǵ mà Tổ Đạt Ma phải từ Tây Trúc qua? Trong mười tám loạicâu hỏi của Phần Dương[24]th́ đầy được coi là loại câu hỏi để thử thách chủ. Cũng c̣n được gọi là loại câu hỏi để thăm ḍ.

Ông tăng đặt câu hỏi này, quả là đặc sắc, ngoài Triệu Châu ra hẳn ai cũng càm thấy rất khó mà đương đầu với ông ta. Ông tăng hỏi, “ Triệu Châu là ǵ?” Triệu Châu bản thân vốn là tay thành thạo, cho nên bèn trả lời, “Đông môn, nam môn, tây môn, bắc môn.” Ông tăng nói “Đệ tử không hỏi Triệu Châu này.” Triệu Chấu nói, “ Thế chú hỏi Triệu Châu nào?” Sau này có người gọi đó là vô sự Thiền”, lừa dối thiên hạ không phải ít. Tại sao vậy? Ông tăng hỏi Triệu Châu, Triệu Châu đáp, “Đông môn, nam môn, tây môn, bắc môn.” Cho nên mới có người bảo rằng thầy ta chỉ trả lời về Triệu Châu kia.Nếu mà ông hiểu như thế th́ bọn nhà quê cũng hiểu Phật Pháp. Chỉ như vậy cũng đủ làm Phật pháp diệt vong. Như thế th́ có khác ǵ đem mắt cá đi so sánh với ngọc trai, giống th́ có giống nhưng mà không phải là một. Như lăo tăng đă nói, không ở Hà Nam th́ ở Hà Bắc. Thử nói xem, là hữu sự hay vô sự? Cần phải cẩn trọng lắm mới được.

Lục Công Viễn nói, “Câu cuối cùng mới đến gần cửa đóng, yếu chỉ chính không ở tại ngôn ngữ:mười ngày một cơn gió, năm ngày một cơn mưa. An bang lạc nghiệp, vỗ bụng âu ca. Đây gọi là thời tiết thái b́nh. Cái gọi là vô sự, không phải giả đui mà gọi là vô sự. Phải nh́n thấu được then chốt, vượt qua được rừng  gai góc, tự tại thánh thoát, giống như một người b́nh thường trước đó, song lúc ấy tùy ḿnh, hữu sự cũng được mà vô sự cũng được. Bốn phương tám hướng tung hoành, không c̣n chấp không làm có nữa. Có người nói, “ Vốn dĩ chẳng có việc ǵ cả, có trà uống trà, có cơm ăn cơm.” Đây đúng là đại vọng ngữ, tôi gọi đó là chưa đắc mà tưởng là ḿnh đắc, chưa chứng mà tưởng là ḿnh chứng. Nguyên lai vố vốn chưa tham thấu được, lúc nghe người ta nói tâm nói tính, nói huyền nói diệu bèn bảo, “Đó chỉ là cuồng ngôn bản lai vốn chẳng có ǵ cả.” Đây đúng là một kẻ mù dắt một bọn mù. Đâu có biết rằng lúc Tổ Sư chưa tới, có đời nào người ta lại gọi trời là đất, gọi núi là sông? Tại sao Tổ Sư c̣n phải từ Tây Trúc đến nữa? Các nơi nhập thất thăng ṭa để nói cái ǵ? Toàn là tri thức cảm quan và khái niệm hóa. Chỉ khi tri thức cảm quan và khái niệm hóa dứt bặt mới có thể nh́n thấu được. Nếu nh́n thấu được rồi th́ y như xưa trời là trời, đất là đất, núi là núi, sông là sông.

Cổ nhân nói, “Tâm là căn, pháp là trần[25], cả hai giồng như tỳ vết trong gương.”Tỳ vết sạch hết gương mới sáng, tâm pháp đều quên tính là chân[26]. Đến giới cảnh giới này tự nhiên được tự tại thánh thoát. Dù cho là cùng cực của lư luận đi nữa cũng chưa hẳn là chốn an ổn. Đến chỗ này người ta thường hay hiểu lầm, cho nên Phật cũng không lễ mà hương cũng chẳng thắp. Giống th́ có giống song làm sao mà đă có thể gọi là thánh thoát tự tại được? Mới hỏi họ, th́ họ làm như là đă đạt đến cùng cực, nhưng mà hỏi dồn thêm nữa, họ lại đâm ra lúng ta lúng túng.Họ ngồi đó với bụng trống tâm cao, song khi ngày cuối tuần gần kề th́ có xoa tay đập ngực đi nữa cũng đă quá trễ. Ông tăng hỏi như thế, Triệu Châu trả lời như thế. Thử nói xem, phải rờ rẫm như thế nào? Như vầy không được, không như vầy cũng không được. Rốt cuộc như thế nào? Mấy cái này chính là chỗ khó. Cho nên Tuyết Đậu mới nêu ra để chỉ cho thiên hạ.

Một hôm Triệu Châu đang ngồi, thị giả vào bảo rằng, “Đại vương đến”. Triệu Châu ngạc nhiên nói, “Đại vương vạn phúc.” Thị giả nói, “Bạch ḥa thượng đại vương chưa đến, Triệu Châu nói, “ Thế mà chú lại bảo là đă đến.” Thầy đến chỗ này quả là kỳ đặc. Nam Thiền Sư niệm rằng, “ Thị giả chỉ biết báo khách, không biết thân tại đế hương. Triệu Châu rẽ cỏ t́m người, không khỏi thân đầy bùn nước.” Các ông muốn biết sự thật về vấn đề này chăng? Xin đọc tụng của Tuyết Đậu.

TỤNG: 

Trong câu vấn để tŕnh thẳng đến,

Trong mắt kim cương[27] không hạt bụi.

Đông nam tây bắc đối diện nhau,

Bao nhiêu trùy đập mở không ra.

B̀NH: Triệu Châu xử trí với hoàn cảnh giống như Kim Cương Bảo Kiếm. Ông vừa định suy nghĩ nói đă cắt mất đầu ông rồi. Nó lại thường móc mắt ông ngay trước mặt ông. Tuy nhiên ông tăng này dám vuốt râu cọp mà đặt một câu hỏi. Giống như không có chuyện lại đi bày vẽ ra chuyện như thể trong câu có vấn đề. Ông ta đă đặt vấn để ra, Triệu Châu cũng chẳng phụ ḷng ông ta, cho nên cũng đáp lại vấn đề. Không phải thầy ta đặc biệt như thế, bởi v́ thầy ta là người đă thấy suốt, cho nên mới biết ḥa điệu với ông tăng kia, tựa như thể có an bài trước.

Há không nghe nói có một ngoại đạo cầm một con chim sẽ trong tay đến hỏi Phật, “ Thử nói xem, con chim trong tay tôi là sống hay chết?” Phật bèn ra đứng giữa ngưỡng cửa hỏi, “Ông thử nói xem tôi đang ra hay vào?”[28]. Ngoại đạo không nói được, bèn cúi lạy.Câu chuyện này cũng giống như công án trên, từ đó huyết mạch của cổ nhân không bị đứt đoạn. Cho nên có lời nói rằng, “ Câu hỏi nằm trong câu trả lời, câu rả lời nằm trong câu hỏi.”

Tuyết Đậu nh́n thấu sự vật như thế cho nên nói”. Trong câu vấn đề tŕnh thẳng tới”. Trong câu có vấn đề lại giống như có hai nghĩa. Giống như hỏi người lại cũng giống như hỏi cảnh. Triệu Châu chẳng di dịch một mảy may bèn trả lời, “Đông môn, nam môn, tây môn, bắc môn.” Trong mắt kim cương không hạt bụi.” Câu tụng này Triệu Châu đoạt cả người lẫn cảnh, đặt vấn đề trong câu cũng như trả lời ông tăng. Đây gọi là có vấn đề, có đối tượng. Thoáng một cái đă trông thấy tâm can ông tăng kia. Nếu không như thế Triệu Châu khó mà so nổi với câu hỏi của ông tăng kia. Thược –ca-la tiếng Phạn có nghĩa là kiên cố, cũng có nghĩa là kim cương, ngụ ư đôi mắt chiếu sáng vô ngại. Không những chỉ có thể nh́n thấy một sợi lông cách xa ngàn dặm mà c̣n có thể quyết định tà chính, phân biệt đắc thất, thấy được hoàn cảnh thích hợp, biết được đúng sai.

Tuyết Đậu nói, “Đông tây nam bắc đối diện nhau, bao nhiêu trùy đập không mở ra, “Đă đập đến bao nhiêu nhát trùy cớ sao lại không tập trung ra được? Phải chăng chổ thấy của Tuyết Đậu là như thế? Các ông làm thế nào để mở cửa này ra đây? Xin suy niệm cho cặn kẽ.

 

TẮC THỨ MƯỜI

BA TIẾNG HÉT CỦA MỤC CHÂU 

THÙY: Như vầy như vầy, không như vầy không như vầy. Luận việc chiến, ai cũng nắm chỗ then chốt. Cho nên mới có câu nói, “ Nếu như hướng thượng mà đi, th́ ngay cả Thích Ca , Di Lặc, Văn Thù, Phổ Hiền, ngàn vạn bậc thánh, và các bậc tông sư trong thiên hạ đều phải ngậm miệng ấm ức cả. Nếu hướng hạ mà đi, th́ côn trùng gịi bọ cùng tất cả mọi sinh vật đều phóng đại quang minh, mọi vật đều vươn ḿnh như núi cao vạn trượng.” Nếu như không hướng thượng mà cũng cũng không hướng hạ th́ sao? Nếu có nguyên tắc th́ dựa vào nguyên tắc, nếu không có nguyên tắc dựa vào thông lệ. Thử nêu ra xem.

CỬ: Mục Châu hỏi ông tăng, “Ông mới từ đâu đến vậy?” Ông tăng bèn hét. Mục Châu nói, “ Lăo tang bị ông hét một lần.” Ông tăng lại hét nữa. Mục Châu nói, “Ba bốn tiếng hét, sau đó th́ sao?” Ông tăng không nói ǵ được. Mục Châu bèn đánh rồi nói, “ Cái gă vô tích sự này.”

B̀NH: Bất cứ ai muốn chống giữ tông môn của chúng ta đều cần phải có đôi mắt của bậc tông sư cũng như khả năng của bậc tông sư. Mục Châu linh hoạt sắc bén, như thể điện chớp, thích thử mấy vị ṭa chủ. Thường th́ một lời hay nửa câu mà thầy ta thốt ra , đều giống như các bụi gai góc, không thể nào mà dẫm chân sờ tay vào được. Mỗi khi có ông tăng nào đến liền nói, “ Công án đă thành , tha cho ông ba chục gậy.’ Hoặc thấy có ông tăng nào đến, Mục Châu liền  gọi, “Thượng tọa!” Ông tăng vừa quay lại, Mục Châu lại nói, “Đồ khiêng gỗ”. Mỗi lúc dạy chúng lại thường nói, “ Chưa có chỗ vào, cần phải t́m chỗ ra chỗ vào. Đă có chỗ vào rồi, không được phụ ḷng lăo tăng.” Mục Châu v́ người khác thường là như vậy cả.

Ông tăng này cũng  điêu luyện lắm, có điều đầu rồng đuôi rắn. Lúc ấy nếu không phải là Mục Châu bất cứ người nào khác hẳn đă bị ông ta làm cho lúng túng một phen rồi. Chẳng hạn như lúc Mục Châu hỏi ông ta, “Ông mới từ đâu đến vậy?” Ông tăng bèn hét. Thử hỏi xem, ư ông ta là thế nào? Song lăo hán này lại chẳng vội vàng mà vẫn thong thả nói, “ Lăo tăng bị ông hét một lần.” Tựa như một mặt chấp nhận lời ông tăng một mặt thử thách ông ta, nghiêng ḿnh nh́n  xem ông ta như thế nào. Một lần nữa ông tăng lại hét, ông ta có vẻ đúng song thật ra lại chẳng đúng. Ông ta kể như đă bị Mục Châu xỏ lỗ mũi khi lăo hán này hỏi, “ Ba bốn tiếng hét , sau đó th́ sao?” Ông tăng này quả nhiên không nói ǵ được. Mục Châu bèn đánh rồi nói, “ Cái gă vô tích sự này.”

Thử người rốt ráo thật, há miệng đă tri âm. Đáng tiếc thay, ông tăng này lại không nói được ǵ, khiến Mục Châu phải gọi ông ta là gă vô tích sự. Nếu như các ông bị Mục Châu hỏi, “ Ba bốn tiếng hét, sau đó th́ sao?” Các ông phải trả lời thế nào để khỏi bị Mục Châu gọi là đồ vô tích sự? Nếu như là bậc biết c̣n mất, phân biệt được đúng sai, chân đứng trên sự thật, ai thèm lo sau ba bốn tiếng hét th́ sao. Song chỉ v́ ông tăng này không nói ǵ được, cho nên mới bị lăo hán này dựa trên mà kết thúc được cho nên mới bị lăo hán này dực trên các dữ kiện mà kết thúc công án. Thử lắng nghe tụng của Tuyết Đậu xem.

TỤNG: 

Hai hét với ba hét,

Thành thạo biết cơ biến.

Nếu như cưỡi lưng cọp,

Cả hai thành ra mù.

Ai mù đâu?

Nêu lên cho cả thiên hạ xem!

B̀NH: Tuyết Đậu luôn luôn đặc biệt v́ người khác. Nếu như không phải là một chuyên gia hẳn thầy ta đă chỉ hét lung tung. Có lúc một tiếng hét không dùng như một tiếng hét, có lúc một tiếng hét dùng như một tiếng hét, có lúc một tiếng hét như sư tử ngồi xổm, có lúc một tiếng hét như Kim Cương Bảo Kiếm.” Hưng Hóa nói, “ Tôi thấy các ông dưới hiên đông cũng hét, dưới mái tây cũng hét, hét loạn xà ngầu để làm cái ǵ? Lâm Tế nói, “ Tôi nghe nói các ông bắt chước  tôi hét, tôi thử hỏi các ông, đông đường có ông tăng bước ra, tây đường có ông tăng bước ra, cả hai ông tăng  đều hét một tiếng, ai là chủ ai là khách? Nếu như các ông không phân biệt được chủ  khách, từ rày về sau đừng bắt chước  tôi hét nữa.

Cho nên Tuyết Đậu tụng rằng, “ Thành thạo biết cơ biến.” Ông tăng kia tuy bị Mục Châu bao vây, song cũng vẫn c̣n biết chỗ cơ biến. Thử nói xem, chỗ nào là chỗ ông tăng kia biết chỗ cơ biến? Lộc Môn Trí Thiền Sư phê b́nh ông tăng này rằng, “ Người biết Pháp sự?” Nham Đậu nói,” Luận việc chiến, ai cũng nắm then chốt.” Hoàn Long Tâm nói, “Cùng tắc biến, biến tắc thông”.[29] Đây chính là chỗ mà các tổ sư làm cho người trong thiên hạ phải líu lưỡi. Nếu như các ông là người hiểu cơ biến th́ vừa nêu lên đă hiểu ngay chỗ cốt yếu.

Có lắm kẻ nói, “cần phải bận tâm đến việc Mục Châu nói ba bốn tiếng hét làm ǵ, cứ tiếp tục hét. Nói ǵ hai chục ba chục tiếng hét, cứ việc hét cho đến khi Phật Di Lặc hạ sinh, gọi là cưỡi lưng cọp. Nếu các ông có tri kiến như thế, tức là chẳng hiểu Mục Châu. Dù cho muốn hiểu ông tăng kia đi nữa, các ông cũng quá xa vời. Giống như người cưỡi lưng cọp, cần phải trong tay có đao cũng như biết uyển chuyển th́ mới được.

Tuyết Đậu nói nếu như thế th́ “ cả hai thành ra mù.” Tuyết Đậu giống như thanh  ỷThiên trường kiếm, uy phong lẫm lẫm. Nếu như hiểu được ư của Tuyết Đậu tự nhiên hiểu được ngàn điều vạn điều cùng một lúc. Lúc ấy sẽ thấy rằng phần cuối tụng của Tuyết Đậu chỉ là cước chú mà thôi. Lại nói, “ Ai mù đâu?” Chủ mù hay là khách mù? Chứ không phải là chủ khách đều cùng mù sao? Tôi xin nêu ra để người trong thiên hạ cùng thấy.” Đây chính là chỗ sống động, Tuyết Đậu một lúc tụng ra luôn. Nhưng mà tại sao Tuyết Đậu lại nói, “ Nêu lên cho cả thiên hạ xem?” Thử nói coi, các ông xem như thế nào? Nhắm mắt cũng được, mở mắt cũng được, song c̣n có ai tránh được chăng?
 
 

[1] “Thánh đế đệ nhất nghĩa”. Triết học Phật giáo phân biệt hai sự thật (satyadvaya,nhị đế), (a) paramàrtha (chân đế, hay đệ nhất nghĩa đế) tức là sự thật cứu cánh, thuộc phạm vi (gocàra) của trí giác ngộ, (b) samvrtisatya (tục đế) hay sự thật công ước, thuộc phạm vi của tri thức thường t́nh. Chữ Phạn Satya trong trường hợp này có thể dịch là “thực tại” (reality).

[2] Ở đây chúng tôi theo bản của Ito Yuten. Bản của Cổ Phương Thiền Sư không có chữ “Phật”.

[3] Nhị Tổ tức Huệ Khả hay Thần Quang. Về tiểu sử của Huệ Khả xin xem Cảnh Đức Truyền Đăng Lục,  cùng một dịch giả sẽ xuất bản.

[4] Kinh Phóng Quang Bát Nhă (Pancavimsatisahàsrikàpraj-nàparàmità), một trong những bản kinh quan trọng của Bát Nhă Bộ. xem Taisḥ 221.

[5] “Tất dũng”: cái thùng đen. Chữ trong Thiền học ám chỉ sự vô minh.

[6] Bản của Cổ Phương Thiền Sư không có đoạn này.

[7] Bản của Cổ Phương Thiền Sư: “ toại bất phục cứu” có vẻ đúng hơn.

[8] Ở đây chúng tôi theo bản của Cổ Phương Thiền Sư

[9] Tam Tổ tức Tăng Xán .Về tiểu sử xin xem Cảnh Đức Truyền Đăng Lục cùng một dịch giả, sẽ xuất bản.

[10] Nguyên văn “đả thành nhất phiến”, ngụ ư không c̣n phân biệt giữa tâm và cảnh, nhân và ngă.

[11] Tức Mă Tổ Đạo Nhất, về tiểu sử xin xem Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, cùng một dịch giả, sẽ xuất bản.

[12] Theo Phật danh Kinh th́ trong một ngàn vị Phật thuộc hiền kiếp vị Phật thứ hai trăm lẻ hai tên là Nguyệt Diện Phật, c̣n vị Phật thứ tám trăm năm mươi tám tên là Nhật Diện Phật.

[13] Kinh Kim Cương  (Vajracchedikàprajnàpàramità Sùtra) cũng là một kinh quan trọng thuộc Bát Nhă Hệ.

[14] Tâm là chủ của vạn pháp” có thể so sánh với kệ số 1 trong Dhammapada: Manopubbángamà dhammà manosetthà manomayà, manasà ce padutthena bahàsati va karoti và tatonam dukkham anveti cakkam va vahato padam.(xem V,Fausboll. The Dhammapada. London: Luzac & Co.1900 trang 3).

[15] Tào Khê là nơi Lục Tổ Huệ Năng cư ngụ, cho nên trong truyền thống Thiền chữ Tào Khê thường được dùng để chỉ Lục Tổ.

[16] Không Sinh tức là ngài Tu Bồ Đề (Subhuti).

[17] Thuấn-nhă-đa tức là dịch âm của chữ Phạn “sùyatà”có nghĩa là không.

[18] Có nghĩa là câu hỏi và câu trả lời trực tiếp chạm nhau như thể hai đầu mũi tên.

[19] Pháp môn của phái Thiền Tào Động.

[20] Pháp môn của phái Thiền Lâm Tế. Xin xem thêm trong Lâm Tế Lục, cùng một dịch giả, sắp xuất bản.

[21] Hai đoạn này không có trong bản của Cổ Phương Thiền Sư.

[22] “minh”.Bản của Ito Yeten: “viên” (viên măn).

[23] Thỉnh ích, có nghĩa là tham khảo thêm với bậc thầy.

[24] Phần Dương Thiện Chiểu (947-1024) thuộc ḍng Lâm Tế, có công trong việc tổng hợp các giáo lư của nhiều tông phái Thiền khác nhau..

[25] “Trần” có nghĩa là đối tượng của cảm quan.

[26] Bản của Cổ Phương Thiền Sư không có câu này.

[27] Thược-ca la phiên âm của chữ Phạn “súkla” có nghĩa là trong sạch.

[28] Theo bản của Ito Yuten: “ Phật đưa nắm tay lên hỏi, “mở hay đóng?”

[29] Lời nói từ Kinh Dịch

Phần 2

TẮC THỨ MƯỜI MỘT

KẺ UỐNG CẶN RƯỢU CỦA HOÀNG BÁ

THÚY: Phật Tổ đại cơ,nắm cả trong tay. Mạng sống người trời, đều chịu sai sử. Một lời vẩn vơ, cũng làm kinh động quần chúng. Một cơ một cảnh, đánh tung xiềng xích. tiếp nhận cơ hội hướng thượng, bàn đến sự siêu việt. thử nói xem, từng có ai đến như thế? Có ai biết cốt yếu của việc này chăng? Xin nêu lên xem thử.

CỬ: Hoàng Bá dạy chúng rằng, “ Các ông chỉ là những kẻ uống cặn rượu. Hành cước như thế, ở đâu có ngày hôm nay? Có biết là trong xứ Trung Quốc này không có Thiền Sư chăng?” Lúc ấy có ông tăng bước ra nói, “ Thế những người hướng dẫn đồ chúng ở khắp các nơi th́ sao?”Hoàng Bá nói, “ Tôi đâu có bảo là không có Thiền, chỉ có điều không có những bậc thầy mà thôi.”

B̀NH: Hoàng Bá thân cao bảy thước[1], trên trán có cục thịt nhô ra trông như thể viên ngọc tṛn. Bẩm sinh thông hiểu Thiền. có truyền thuyết nói rằng đă từng đồng hành với La Hán [2] . Hồi xưa Sư đi lên núi Thiên Thai, giữa đường gặp một ông tăng, hai người cười nói với nhau như thể thâm giao. Hoàng Bá nh́n kỹ ông tăng, thấy ông ta có đôi mắt sáng quắc, có vẻ dị tướng.Hai người đồng hành với nhau, đến khi gặp ḍng suối nước lũ kia, Hoàng Bá chống gậy, cởi nón đứng đó. Ông tăng kia thúc Sư cùng qua sông , Sư nói, “Ông cử qua trước đi Ông tăng kia bèn vén áo nhón bước trên sông như thể đi trên đất bằng, vừa quay đầu lại nói,”Qua đi,qua đi!” Hoàng Bá hét, “Đồ ích kỷ! Tôi mà biết ông dở tṛ như thế, tôi đă sớm chặt phăng chân ông đi rồi!” Ông tăng kia thở dài nói, “Đúng là bậc Pháp khí [3] của Đại Thừa!” Nói xong biến mất.

Lúc Hoàng Bá mới đến gặp Bách Trượng, Bách Trượng nói, “ Nguy nga hùng vĩ, từ đâu đến vậy?” Hoàng Bá nói, Nguy nga hùng vĩ, từ đỉnh núi tới.” Bách Trượng nói, “Đến có việc ǵ vậy?” Hoàng Bá nói, “ Không v́ việc ǵ khác cả.” Bách Trượng coi trọng là bậc Pháp khí.

Hôm sau từ giă Bách Trượng, Bách Trượng nói, “Đi đâu vậy?” Hoàng Bá nói, “Đi Giang Tây để ra mắt Mă Đại Sư.” Bách Trượng nói, “ Mă Đại Sư đă qua đời rồi.” Hoàng Bá nói, “ Không hiểu lúc sinh thời, Mă Đại Sư có nói những ǵ? Mong được nghe lại.” Bách Trượng bèn thuật lại nhân duyên gặp Mă Tổ: “ Lúc Mă Tổ thấy tôi tới, ngài dơ phất trần lên. Tôi hỏi, “ Thầy là một hay khác với hành động này?” Mă Tổ bèn treo phất trần nơi đầu giường Thiền. Măi lâu sau Mă Tổ mới hỏi, “ Sau này ông khua môi múa mỏ, v́ người như thế nào?” Tôi dựt lấy phất trần dơ lên. Mă Tổ nói, “ông là một hay khác với hành động này?” Tôi treo lại phất trần nơi đầu giường Thiền. Mă Tổ thị uy hét một tiếng khiến tôi lúc ấy bị điếc tai suốt ba ngày.”

Hoàng Bá bất giác rùng ḿnh le lưỡi.Bách Trượng nói, “ Sau này ông c̣n muốn thừa tự Mă Đại Sư chăng?” Hoàng Bá nói, “ Không. Hôm nay được nghe thầy thuật lại đại cơ đại dụng của Mă Đại Sư, nếu như thừa tự Mă Đại Sư, e rằng sau này tôi sẽ tuyệt tự mất.” Bách Trượng nói, “Đúng thế, đúng thế. Nếu kiến giải của một người mà bằng với thầy ḿnh, đó là làm giảm mất một nửa đức của thầy. Phải có trí huệ vượt hơn thầy của ḿnh, mới xứng đáng  được truyền thụ. Chỗ kiến giải của ông hiện giờ, có căn cơ để vượt hơn thầy lắm.” Các ông thử nói xem, Hoàng Bá hỏi như thế là đă biết mà c̣n cố hỏi, hay là không biết mà hỏi? Phải biết hàng trang của cha con trong môn phái của họ th́ mới hiểu được.

Một hôm Hoàng Bá lại hỏi Bách Trượng, “ Tông thừa của chúng ta từ xưa đến nay, được chỉ thị như thế nào?” Bách Trượng nói, “ Tôi cứ nghĩ ông là người đó.” Rồi đứng lên bỏ vào phương trượng.

Hoàng Bá với tướng quốc Bùi Hưu là bạn thân. Sư thường giảng tâm yếu cho Bùi Hưu.[4] Lúc Bùi Hưu làm tổng trấn Uyển Làng có mời Sư đến quận , trao cho Sư một thiên sách viết về chỗ kiến giải của ḿnh. Hoàng Bá tiếp lấy để xuống ghế chẳng hề mở ra xem. Măi lâu sau mới nói, “ Hiểu không?” Bùi Hưu nói, “ Không hiểu.” Hoàng Bá nói, “ Nếu ông hiểu như thế th́ c̣n có chút chỗ đắc. Nếu như ông nệ vào giấy mức bề ngoài, th́ có chỗ nào là tông của tôi? Bùi Hưu bèn làm bài tụng tán thán rằng, “ Từ khi Đại Sĩ truyền tâm ấn, trán có viên châu thân bảy thước. Treo gậy mười năm bên sông Thục, trôi nổi hôm nay ghé bến Chương.Tám ngàn rồng voi theo bước lớn, vạn dặm hương hoa kết thắng nhân. Những muốn theo thầy làm đệ tử, chưa biết thầy trao Pháp cho ai?” Hoàng Bá chẳng tỏ vẻ vui mừng, nói, “ Tâm như biển lớn không ngằn mé,miệng nhả hoa sen nuôi thân bệnh. Ta có một đôi tay vô sự, chẳng từng vái chào kẻ rỗi hơi.” Hoàng Bá trù tŕ, cơ phong cao vút. Lâm Tế cũng có trong chúng hội, Mục Châu là thủ ṭa.Mục Châu hỏi Lâm Tế, “ Thầy ở đây bao lâu rồi, tại sao không vào hỏi ǵ đi?” Lâm Tế nói, “ Xin cho tôi hỏi cái ǵ mới đúng?” Mục Châu nói, “ Tại sao không vào hỏi ư chỉ của Phật Pháp là ǵ?’ Lâm Tế vào hỏi ba lần, ba lần bị đáng đuổi ra. Lâm Tế bèn giă từ Mục Châu, “ Nhờ thủ ṭa dạy ba lần tôi vào hỏi đều bị đánh đuổi ra. E rằng tôi không có nhân duyên với chốn này. Thôi th́ tạm thời hạ sơn vậy.” Mục Châu nói, “ Nếu ông muốn đi, ông nên vào từ biệt Ḥa thượng mới phải.” Rồi vào trước nói với Hoàng Bá. “ Vị thượng tọa vào hỏi kia là một người kiếm có lắm, tại sao Ḥa thượng không dùi mài cho ông ta trở thành một cội cây che mát cho thiên hạ?” Hoàng Bá nói. “Ta biết rồi”.

Lâm Tế vào từ biệt, Hoàng Bá nói, “Ông không cân phải đi đâu cả, chỉ cần đến thẳng bến Cao An mà gặp Đại Ngu.” Lâm Tế đến gặp Đại Ngu thuật lại câu chuyện trước đó rồi nói, “ Kẻ hèn này không hiểu ḿnh có lỗi ở chổ nào?” Đại Ngu nói, “Hoàng Bá mới từ bi làm sao, v́ ông mà tận lực như thế, ông c̣n lo đi nói lỗi phải cái ǵ.”. Lâm Tế đại ngộ nói, “ Phật Pháp của Hoàng Bá chẳng có ǵ là nhiều nhặn.” Đại Ngu nắm lấy Lâm Tế nói, “ Vừa rồ! ông mới nói ḿnh có lỗi, bây giờ lại nói Phật Pháp chẳng có ǵ nhiều nhặn.” Lâm Tế đánh vào hông Đại Ngu ba lần. Đại Ngu đẩy Lâm Tế ra nói, “ Thầy của ông là Hoàng Bá, chuyện này chẳng có ǵ nhằm nḥ đến tôi cả.”

Một hôm Hoàng Bá dạy chúng nói, “ Ngưu Đầu Pháp Dung Đại Sư nói ngang nói dọc, song vẫn chưa biết then chốt của con đường hướng thượng. Ngày nay những kẻ học Thiền với Thạch Đầu và Mă Tổ huyên hoa nói Thiền nói Đạo.” Tại sao Sư lại nói như thế? Cho nên mối dạy chúng rằng, “ Các ông chỉ là một lũ uồng cặn rượu. Các ông mà hành cước như thế chỉ tổ khiến thiên hạ cười cho.

Thấy chỗ nào qui tụ tám trăm một ngàn người là tới. Chỉ lo đi t́m nhiệt náo như thế đâu có được, nếu như ở đây ai cũng thích dễ dăi như các ông th́ đâu c̣n có chỗ như ngày hôm nay.” Thời nhà Đường người ta có thói mắng người khác là “đồ uống cặn rượu.’ Đa số thiên hạ bảo là Hoàng Bá thích mắng người. Song những ai có mắt tự nh́n thấy cốt ư của Hoàng Bá. Cái ư chính là thả móc đế câu câu hỏi của người ta. Trong chúng hội có một người học Thiền không tiếc thân mạng cho nên mới bước ra hỏi rằng, “ Thế những người hướng dẫn đồ chúng ở khắp nơi th́ sao?” Kể cũng là một câu hỏi hay. Lăo hán này quả nhiên không giải thích được cho nên bèn mập mờ nói, “ Tôi đâu có bảo là không có Thiền, chỉ có điều là không có những bậc thầy mà thôi.” Thử nói xem ư của Hoàng Bá ở chổ nào?

Tông chỉ từ xưa là có lúc bắt, có lúc buông, có lúc giết, có lúc cứu, có lúc thu, có lúc thả. Dám hỏi chư vị, thế nào mới là bực thầy trong Thiền ? Sư núi tôi vừa nói thế, kể như đă mất cả mặt mũi rồi. Lỗ mũi của chư vị ở đâu? Lâu sau mới nói, “ Bị xỏ cả rồi.”

TỤNG: 

Lẫm liệt siêu quần chẳng tự khoe,

Biển đời ngồi nghiêm phân rồng rắn.

Đại Trung thiên tử từng coi nhẹ,

Ba bận đích thân đụng móng vuốt.

B̀NH: Câu tụng này của Tuyết Đậu có vẻ như thực sự tán thán Hoàng Bá. Song người ta không được hiểu là tán thán thật. Ngay trong câu của thầy ta đă có chỗ xuất thân. Tuyết Đậu rơ ràng nói, “ Lẫm liệt siêu quần chẳng tự khoe. Hoàng Bá dạy chúng như vậy đâu phải để tranh với người khác, tự phô trương, tự phụ, tự khoe đâu. Nếu như ông hiểu được vấn đề này, ông tha hồ tự tại tung hoành. Có lúc đứng một ḿnh trên đỉnh cao, có lúc lăng xăng giữa chợ. Há cần phải hẹp ḥi chấp nhặt một xó? Ông càng xả ông càng bất an, càng kiếm càng không thấy, càng ôm đồm th́ càng ch́m đắm. Cổ nhân nói, “ Không cánh bay khắp thiên hạ, có danh truyền khắp thế gian.” Tận t́nh xả hết các đạo lư huyền diệu kỳ đặc trong Phật Pháp, một lúc buông bỏ cả th́ cũng c̣n tạm được. Lúc ấy bất cứ ở đâu tự nhiên ( Phật Pháp) sẽ hiện thành.

Tuyết Đậu nói, “ Biển đời ngồi nghiêm phân rồng rắn.” Rồng hay rắn? Bất cứ ai vừa bước vào cửa, đă thử thách người ấy ngay, đó gọi là đôi mắt phân rồng rắn, khả năng bắt hổ tê. Tuyết Đậu c̣n nói, “ Mắt phân rồng rắn hề sao đúng, tài bắt hồ tê hề bất toàn.” Lại nói, “Đại trung thiên tử từng coi nhẹ, Ba bân đích thân dụng móng vuốt.” Hoàng Bá đau phải bây giờ mới thế, thầy ta lúc nào cũng vậy cả. C̣n về Đại Trung thiên tử th́ theo Tục Hàm Thông Truyện có ghi rằng Đường Hiến Tông (trị v́ 847-860) có hai người con, một tên là Mục Tông một tên là Tuyên Tông. Tuyên Tông tức là Đại Trung. Năm mười ba tuổi, tuy c̣n trẻ song thông minh đỉnh ngộ, thích ngồi kiết già. Lúc Mục Tông c̣n tại vị, một hôm sau khi băi triều buổi sáng, Đại Trung mới đùa lên ngôi trên ngai vàng giả chào các quần thần. Một vị đại thần trông thấy ngở là Đại Trung điên mới bẫm lại cho Mục Tông. Lúc Mục Tông trông thấy thế, mới tán thán rằng, “Em ta quả thật là bậc anh hào của ḍng dơi.”

Mục Tông mất vào năm thứ tư niên hiệu Trường Khánh (842), để lại ba người con là Kính Tông, Văn Tông và Vũ Tông. Kính Tông kế vị cha trị v́ được hai năm, cho đến khi nội thần âm mưu truất phế.Văn Tông lên kế vị được mười bốn năm. Lúc Tông lên lế vị thường gọi Đại Trung là thằng điên. Một hôm Vũ Tông vẫn c̣n  giận chuyện Đại Trung đùa lên ngôi ngai vàng của cha ḿnh, sai người đánh cho một trận gần chết rồi đem quẳng ở phía vườn sau tưới nước bẩn lên chotỉnh lại. Đại Trung mới bỏ trốn vào chúng hội của ḥa thượng Hương Nghiêm Nhàn, sau đó cắt tóc làm sa di, song chưa thụ giới cụ túc. Sau  khi du phương với Chí Nhàn.Lúc đến Lô Sơn Chí Nhàn làm một bài thơ về thác nước như sau, “ Xuyên mây xẻ đá ngại ǵ sao, đất xa mới biết chốn này cao.” Chí Nhàn ngâm hai câu ấy, rồi trầm tư hồi lâu, muốn khích Đại Trung thổ lộ để xem ông ta là người như thế nào. Đại Trung đọc tiếp, “ Khe suối làm sao giữ lại được? Về biển làm nên sóng dăt dào.” Chí Nhàn mới biết rằng ông không phải là người tầm thường, thầm lấy làm cảm kích.

Sau đến chúng hội của Diêm Quan, Đại Quan được mời làm thư kư. Hoàng Bá làm thủ ṭa ở đó. Một hôm Hoàng Bá lễ Phật, Đại Trung trông thấy hỏi, “ Không chấp trước vào Phật mà cầu, không chấp trước vào Pháp mà cầu, không chấp trước vào tăng mà cầu, lễ bái để cầu cái ǵ vậy? Hoàng Bá nói, “ Tôi chẳng chấp trước vào Phật mà cầu, chẳng chấp trước vào Pháp mà cầu, chẳng chấp trước vào tăng mà chỉ lễ bái như vậy thôi.” Đại Trung hỏi, “ lễ báo để làm ǵ?” Hoàng Bá bèn tát. đại Trung nói, “ Thô suất quá.” Hoàng Bá nói, “Ở đây là đâu để mà ông nói thô tế?” Hoàng Bá lại tát. Sau này lúc Đại Trung lên kế vị ngai vàng phong Hoàng Bá là Thô Hành Sa Môn. Sau này lúc Bùi Hưu có ở triều đ́nh xin phong cho Hoàng bá là “Đoạn Tế Thiền Sư.”

Tuyết Đậu biết chỗ huyết mạch xuất xứ, cho nên mới sử dụng được một cách khéo léo như thế. Hiện giờ c̣n ai muốn dơ móng vuốt ra chăng? Tôi đánh cho đấy!

 

TẮC THỨ MƯỜI HAI

BA CÂN GAI CỦA ĐỘNG SƠN

THÙY: Đao giết người, kiếm cứu người, là phong qui đời xưa, là cốt yếu của thời nay. Nếu luận về giết, chẳng hại một sợi lông. Nếu luận về cứu, liền tang thân thất mạng. Cho nên mới có lời nói, “ Một đường hướng thượng, ngàn thánh không truyền, kẻ học mệt thân, như khỉ bắt bóng.” Thử nói xem, đă không truyền th́ tại sao lại có đến lắm công án dây dưa như vậy? Để những người cómắt thử nêu lên xem.

CỬ: Có ông tăng hỏi Động Sơn, “ Phật là ǵ?” Động Sơn nói, “ Ba cân gai.”

B̀NH: Công án bị khá nhiều người hiểu lầm. Quả là khó nhai bởi v́ không có chỗ để cho các ông ghé miệng.Tại sao vậy? Bởi v́ nó vừa nhạt nhẽo vừa vô vị. Cổ nhân  có rất nhiều câu trả lời cho câu hỏi, “ Phật là ǵ?” Có vị nói, “Ở trong chánh điện đó.” Có vị nói, “ Ba mươi hai tướng.” Có vị nói, “ Ngọn roi trúc dưới núi.” Đến Động Sơn th́ lại nói, “ Ba cân gai”. Đúng là làm líu hết lưỡi cổ nhân. Thiên hạ bàn luận nhiều về công án này, có người nói rằng. “Lúc ấy Động Sơn đang ở trong nhà kho cân gai, vừa lúc ông tăng hỏi cho nên mới trả lời như thế. Có người nói Động Sơn hỏi đông đáp tây. Có người nói ḿnh đă là Phật c̣n đi hỏi Phật cho nên Động Sơn mới trả lời ṿng vo như thế. Trong bọn người chết kia lại có kẻ nói ba cân gai chính là Phật. May mà chẳng có ǵ là đúng cả. Nếu như các ông lo đi t́m ṭi trong lời của Động Sơn như thế, có tham nghiệm cho đến lúc Di Lặc hạ sinh đi nữa cũng chẳng thấy được ǵ.

Tại sao vậy. Ngôn ngữ chỉ là dụng cụ để chở Đạo. Đàng này đă không hiểu ư cổ nhân lại chỉ lo t́m ṭi trong ngôn ngữ của họ, có dáng dấp ǵ đâu? Há không nghe cổ nhân nói, “Đạo vốn vô ngôn, nhân ngôn hiển đạo. Thấy đạo tức quên lời.” Đến đây phải cùng tôi trở lại vấn đề nguyên thủy mới được. Ba cân gai này cũng giồng như đại lộ l6en Trường An vậy. Dơ chân để chân không có hành động nào đúng. Câu chuyện này cũng khó hiểu giống như Vân Môn nói, “ Bánh”, Ngũ Tổ tụng rằng “ Gă khiêng ván bán rẻ, cân ra ba cân gai. Hang động trăm ngàn năm, chẳng có chốn nương thân.” Các ông cần phải trong một chặp rũ sạch tư tưởng cảm quan, ư tưởng, so đo, được mất, thị phi, th́ tự nhiên sẽ hiểu.

TỤNG: 

Kim ô cấp[5]

Ngọc thố[6]

Đáp khéo làm sao có cơ suất?

Triển sự hợp cơ thấy Động Sơn.

Miết[7] què rùa đui thung lũng trống.

Hoa xum xuê,

Rừng rậm rạp.

Trúc phương nam hề phương bắc,

Nghĩ tời Trường Khánh, Lục Đại Phu[8]

Biết nói phải cười chứ không khóc.

Ôi!

B̀NH: Tuyết Đậu nh́n thấu hết, cho nên nói thẳng ra, “ Kim ô cấp, ngọc thỏ tốc.”Không khác với ĐộngSơn nói, “ ba cân gai”. Mặt trời mọc, mặt trăng lặn, ngày nào cũng vậy. Thiên hạ hay hiểu theo tri thức cảm quan măi nói, “ Kim ô là mắt trái, ngọc thỏ là mắt phải.” Vừa bị hỏi đă trợn trừng mắt nói, “Ở đây đây.” Song chẳng có nhằm nḥ ǵ cả. Nếu như các ông hiểu như thế th́ tông môn của Đạt Ma hẳn sẽ bị tận diệt mất. Cho nên mới có câu nói, “ Thả câu bốn biển, chỉ câu mănh long. Huyền cơ đặc biệt, để t́m tri kỷ.” Tuyết Đậu là người đă vượt lên trên cơi vực của ngũ ấm[9], há lại có thứ kiến giải như thế sao ? Tuyết Đậu nhẹ nhàng đi vào những chỗ vi diệu nhất để vạch ra chút nào cho các ông thấy, cho nên mới thêm cước chú rằng,” Đáp khéo làm sao có sơ suất?” Động Sơn không hề trả lời ông tăng kia một cách lơ là, thầy ta giống như cái chuông được đánh, như thung lũng, đáp lại tiếng vang. Lớn nhỏ ǵ cũng dội lại. (Động Sơn cũng thế) đâu có giám khinh suất. Tuyết Đậu trong một lúc đột nhiên thổ lộ tâm can ra cho các ông xem. Tuyết Đậu có câu tụng tĩnh lặng xong khéo tương ứng: “ Gặp nhau thẳng mặt, không ǵ rắc rối, rồng rắng dễ phân, nạp tăng[10] khó lừa. Bóng trùy vang động, ánh bảo kiếm lạnh, bộ xương trực tiếp, mau ghé mắt xem!”

Lúc Động Sơn mới gặp Vân Môn, Vân Môn hỏi, “Ông mới ở đâu tới vậy?” Động Sơn nói, “ Tra-Độ”. Vân Môn nói, “Kiết hạ ở đâu?” Đông Sơn nói, “Ở chùa Báo Từ, Hồ Nam.” Vân Môn nói, “ Kiết hạ ở đâu?” Động Sơn Từ, Hồ Nam. Vân  Môn nói, “Ông rời đó lúc nào?” Động Sơn nói, “ Hăm lắm tháng tám.” Vân Môn nói, “ Tha cho ông ba trận gậy đó, mau vào sảnh đường tham thiền đi.” Tối đến Động  Sơn vào pḥng của Vân Môn, mon men đến gần hỏi, “ Kẻ hèn này có lỗi ở chỗ nào?”Vân Môn nói, “Đồ  bị gạo, Giang Tây với Hồ Nam th́ cũng thế mà thôi.” Nghe lời ấy, Động Sơn hốt nhiên đại ngộ, nói, “ Sau này tôi sẽ đến một nơi không bóng người, tự xây một am thảo, không trữ một hạt gạo, chẳng trồng một cành rau, chỉ thường tiếp các đại thiện tri thức từ thập phương lui tới. Tôi sẽ tận lực nhổ đinh bật chốt cho họ, dở mũ sờn, cởi áo bẩn cho họ, khiến ai nấy siêu thoát tự tại mà trở thành những kẻ vô sự.” Vân Môn nói, “ Con người ông  chỉ bằng trái dừa mà sao ông mở miệng lớn lối thế. “

Động Sơn bèn từ giă Vân Môn. Chỗ giác ngộ của thầy ta lúc đó trực tiếp và khoảng khoát, há giống như các thứ kiến thức hẹp ḥi sao? Sau này lúc Động Sơn ra đời để tiếp dẫn thiên hạ[11],câ nói “ ba cângai” kia thường được thiên hạ các nơi hiểu như là đế đáp cho câu hỏi “ Phật là ǵ”. Đó là dùng tri thức lư luận ra mà hiểu Phật. Tuyết Đậu nói nếu người ta hiểu câu đáp của Động Sơn như là một cách khoáng trương dữ lkiện cho hợp với hoàn cảnh th́ thật chẳng khác ǵ con ba ba què hay con rùa mù lạc vào thung lũng thênh thang, đến năm tháng nào mới t́m được lối ra đây?

C̣n câu “ hoax um xuê, rừng rậm rạp” là do ở câu chuyện sau đây: Có ông tăng hỏi Trí Môn Ḥa Thượng, “Động Sơn nói ba cân gai, ư nghĩa của lời ấy là ǵ?” Trí Môn nói, “ Hoa xum xuê, rừng rậm rạp. Hiểu không?” Ông tăng không hiểu. Trí Môn lại nói, “ Trúc phương nam hề gỗ phương bắc.” Ông tăng về thuật lại cho Động Sơn. Động Sơn nói, “ Tôi không chỉ giải thích cho ông, mà sẽ giải thích cho cả chúng hội.” Rồi thượng đường nói, “ Ngôn ngữ (tuy là) để giải bày sự vật, song ngôn ngữ không phải lúc nào cũng thích hợp với hoàn cảnh. Bám vào ngôn ngữ là lầm lạc, c̣n vương vào chữ nghĩa là mê mờ.”[12]

Tuyết Đậu có ư muốn phá tan hết các kiến chấp của thiên hạ cho nên mới xâu tất cả lại thành một chuỗi mà tụng ra. Song người đời sau lại càng thêm kiến chấp nói rằng, “ (Vải) gai là tang phục, trúc là gậy tang, cho nên mới nói “ trúc phương nam hề gỗ phương bắc.” C̣n “hoax um xêu, rừng rậm rạp” là hoa lá vẽ trên quan tài. Họ c̣n biết xấu hổ chăng? Họ đâu có biết rằng “ trúc phương nam hề gổ phương bắc” với lại “ba cân gai” cũng tựa như “ba” với “bố” mà thôi. Cổ nhân đáp ra một lời then chốt, ư của họ quyết không phải là như thế. Cũng giống như khi Tuyết Đậu nói, “ Kim Ô cấp, ngọc thỏ tốc,” cũng khoảng khoát như vậy. Có điều vàng thau lẫn lộn, “ ngư” “lỗ”[13] chập chùng.

Tuyết Đậu từ bi cùng tột, muốn phá vỡ mối nghi của các ông cho nên mới dẫn lời bọn dở chết. “ Nghĩ tới Trường Khánh, Lục Đại Phu; biết nói phải cười chứ không khóc.” Nếu như luận bài tụng của Tuyết Đậu th́ chỉ ba câu đầu là đă tụng hết rồi. Nhưng mà tôi muốn hỏi các ông, cả thế giới này chỉ giống như ba cân gai, tại sao Tuyết Đậu lại phải dây dưa như thế? Chỉ v́ từ bi quá đỗi cho nên mới như thế.

Lúc Lục Hoàn đại phu làm Quán Sát Sứ Tuyên Châu có tham học với Nam Tuyền. Lúc mà Nam Tuyền mất, Hoàn nghe tin vào chùa chịu tang. Vào đến noi Hoàn lại cười ha hả. Viện chủ hỏi, “ Tiên sư với Đại Phu có nghĩa sư sinh,tại sao đại phu lại không khóc?” Hoàn nói, “ Thầy nói ǵ đi rồi tôi khóc.” Viện chủ không nói ǵ được. Hoàn bật khóc nói, “ Trời ơi, trời ơi, Tiên sư khứ thế đă lâu quá rồi,” Sau này Trường Khánh nghe chuyện ấy nói, “ Lục đại phu lẽ ra phải cười chứ không phải là khóc”.

Tuyết Đậu mượn đại ư của câu chuyện này mà nói rằng nếu các ông lo hiểu theo kiến chấp như thế th́ quả là đáng cười chứ không đáng khóc. Đúng th́ đúng thật, song cuối cùng có một chữ không khỏi có hơi dư thừa, ấy là lúc Tuyết Đậu nói, “Ôi” Tuyết Đậu có tự rửa ḿnh sạch sẽ được chăng?
 
 

TẮC THỨ MƯỜI BA

CHÉN BẠC CỦA BA LĂNG

THÙY:Mây đọng trên đồng,không che trời đất, Tuyết phủ hoa lau, khó phân dấu vết. Chỗ lạnh lạnh như băng tuyết, chỗ nhỏ nhỏ như bột gạo. Chổ sâu mắt Phật khó nh́n, chỗ kín ngoại ma khó ḍ. Nếu một hiểu ba tạm dẹp qua, làm cả thiên hạ líu lưỡi th́ như thế nào? Thử nói xem đó là việc của ai? Xin thử nêu lên xem sao.

CỬ: Có ông tăng hỏi Ba Lăng, “ Thế nào là tông của Đề Bà?”[14] Ba Lăng nói, “ Tuyết đầy trong chén bạc.”

B̀NH: Công án này thường bị người ta hiểu lầm mà bảo rằng đây là tông của ngoại đạo. Đâu có ǵ là đúng. Tổ thứ mười lăm Đề Bà vốn cũng đă từng là một trong các ngoại đạo, nhân trông thấy tổ thứ mười bốn là Long Thụ Tôn Giả[15] lấy kim bỏ vào bát. Long Thụ cảm kích sâu xa mới truyền tâm ấn của Phật cho Đề Bà làm tổ thứ mười lăm. Kinh Lăng Già nói, “ Phật dạy tâm làm tông, vô môn làm pháp môn.” Mă Tổ nói, “Phàm có ngôn cú th́ là tông của Đề Bà, chí lấy đó làm chủ mà thôi.” Các ông đều là khách trông tông môn của nạp tăng, các ông đă từng nghiên cứu thấu suốt tông của Đề Bà chưa? Nếu như đă thấu suốt th́ cả chín mươi sáu thứ ngoại đạo của Tây thiên[16] đă bị các ông hàng phục một lúc. Nếu không thấu suốt th́ các ông khó tránh khỏi phải mặc áo cà sa ngược mà đi. Thử nói xem như thế nào? Nếu nói là ngôn ngữ cũng không đúng, mà bảo không phải là ngôn ngữ cũng chẳng đúng. Thử nói xem ư của Mă Đại Sư là ở chỗ nào?

Vân Môn nói, “ Mă Đại Sư nói hay lắm có điều chẳng có ai hỏi cả.” Có ông tăng bèn hỏi, “Thế nào là tông môn của Đề Bà?” Vân Môn nói, “Trong chín mươi sáu loại ngoại đạo, ông là loại thấp nhất.”

Hồi xưa có ông tăng từ giă Đại Tùy. Đại Tùy nói, “Chú đi đâu?” Ông tăng nói, “Đi đảnh lễ Phổ Hiền.” Đại Tùy dơ phất trần lên nói, “ Văn Thù Phổ Hiền đều ở đây cả”. Ông tăng vạch một ṿng tṛn rồi lấy tay đẩy về phía Đại Tùy, rồi lại ném về phía sau. Đại Tùy nói, “Thị giả, chuẩn bị trà cho ông tăng này ngay!”

Vân Môn cũng nói, “Ở Ấn Độ người ta chặt đầu chặt tay, ở đây chỉ tự ḿnh đi ra mà thôi.” Lại nói, “ Cờ đỏ trong tay ta.”

Phàm ở Ấn Độ khi có luận nghị (giữa các tôn giáo), người thắng cầm cờ đỏ, kẻ thua th́ phải mặc áo cà sa ngược mà đi ra bằng cửa hông. Muốn luận nghị trước tiên phải có sắc lệnh của vua, rồi đóng chuông đánh trống trong tự viện lớn, sau đó mới bắt đầu luận nghị. Lúc ấy ngoại đạo phong kín chuông trống trong tự viện của Phật giáo, nói là để sa thải. Ngài Cà Na Đề Bà biết rằng Phật Giáo có nạn, bèn vận thần thông lên lầu đánh chuông để đuổi các ngoại đạo ra. Ngoại đạo nói, “ Ai đánh chuông trên lầu vậy?” Đề Bà nói, “Thần.” Ngoại đạo hỏi, “ Thần là ai?” Đề Bà nói, “ Thần là ta.” Ngoại đạo nói, “ Ta là ai?” Đề Bà nói, “ Ta là ngươi.” Ngoại đạo nói, “ Người là ai?” Đề Bà nói, “ Ngươi là chó.” Ngoại đạo hỏi, “ Chó là ai?”. Đề Bà nói, “ Chó là ngươi.” Sau bảy ṿng như thế, ngoại đạo tự biết là ḿnh thua hèn mở cửa lầu. Do đó Đề Bà từ trên lầu cầm cờ đỏ bước xuống. Ngoại đạo nói, “ Sao ông không đi sau?” Đề Bà nói, “ Sao ngươi không đi trước?” Ngoại đạo nói, “Ông là người hạ tiện.” Đề Bà nói, “ Người là kẻ lương thiện.”

Cứ thế mà hỏi đáp, song Đề Bà dùng biện tài vô ngại của ḿnh mà bẻ ngoại đạo. Ngoại đạo do đó mới chịu qui phục. Lúc ầy Đề Bà tay cầm cờ đó, kẻ thua cuộc th́ đứng dưới cờ. Lúc ấy Đề Bà tay cầm cờ đó, kẻ thua cuộc th́ đứng dưới cờ. Lúc ấy ngoại đạo có tục lệ chặt đầu chuộc lỗi, song Đề Bà bèn chấm dứt cái tục ấy. Chỉ bảo họ cạo đầu theo Phật giáo. Từ đó tông của Đề Bà đâm ra hưng thịnh. Tuyết Đậu sau dùng tích này để tụng.

Trong chúng hội Ba Lăng có biệt danh là Giám Đa Khẩu, thường đem tọa cụ đi hành cước, lại đắc được chỗ uyên áo của giáo lư Vân Môn, cho nên hết sức là đặc sắc. Sau này ra đời với tư cách là người truyền thừa của Vân Môn. Trước tiên ở Ba Lăng, Nhạc Châu. Sư không có viết ǵ về việc truyền thừa Pháp, chỉ dùng ba chữ then chốt để dâng lên Vân Môn: “Đạo là ǵ? Người mắt sáng rơi xuống giếng.”Thế nào là lưỡi kiếm chẻ sợi tóc? Từng nhánh san hô chống mặt trăng?” Thế nào là tông của Đề Bà? Tuyết đầy trong chén bạc. Vân Môn nói, “ Sau này vào ngày giỗ kỵ, của lăo tăng, các ông chỉ cần đọc ba lời then chốt này là kể như đă trả ơn đầy đủ.” Sau này quả nhiên ( Ba Lăng) không làm lễ giỗ kỵ,mà y theo lời Vân Môn chỉ tụng ba lời then chốt trên.

Sau này các nơi trả lời câu hỏi này thường dựa vào các sự kiện trên, chỉ có Ba Lăng là nói như vậy, thầy ta thật là siêu quần bạt tụy, hết  sức là khó hiểu. Thầy ta chẳng để lộ chút nào chỗ sắc bén của ḿnh, chịu sự tấn công của kẻ địch từ tám hướng, và dưới bất cứ đ̣n nào cũng vẫn có chỗ né tránh. Thầy ta có khả năng bẫy hổ,cũng như tước đoạt tất cả các kiến chấp của thiên hạ. nếu luận về việc một vấn đề này[17], đến chỗ này người ta cần phải tự ḿnh thấu suốt lấy, song cũng vẫn c̣n cần phải được bậc thiện tri thức mới được. Cho nên mới có câu nói, “Đạo Vũ khoa trương, đồng lứa hiểu; Thạch Củng giương cung thức giả thấu.” Nguy6en lư này mà không có bậc thầy ấn thủ cho, biết dùng giáo lư nào để nói chỗ huyền diệu của nó đây? Sau đó Tuyết Đậu v́ người khác mà nêu lên, cho nên mới tụng:

TỤNG:

Lăo Tân Khai,

Ghê gớm thật

Biết nói trong chén bạc đầy tuyết.

Chín mươi sáu loại cần tự biết.

Không biết phải hỏi trăng trên trời.

Đề Bà Tông, Đề Bà Tông!

Dưới lá cờ đỏ gió phất phơ.

B̀NH: Tân Khai là tên của tự viện. “ Ghê gớm thật” là lời tán thán của Tuyết Đậu. Thử nói xem ghê gớm ở chỗ nào? “ Tất cả ngôn ngữ, đều là Phật Pháp.” Sưnúi tôi nói như thế có nghĩa là ǵ? Tuyết Đậu hé mở ra một chút khi thầy ta nói Ba Lăng ghê gớm thật. Sau đó thầy ta lại mở tung ra khi thầy ta nói, “ Biết trong chén bạc đầy tuyết.” Rồi lại cho các ông thêm cước chú rằng: “ Chín mươi sáu loại cần tự biết.” Song người ta phải có thua trước th́ mới biết được ( thắng là thế nào). Nếu như các ông biết, th́ cứ đi hỏi mặt trăng trên trời. Cổ nhân từng đáp câu hỏi này rằng, “Đi hỏi trăng trên trời.”

Cuối bài tụng Tuyết Đậu phải khai mở ra lối thoát cho một câu giống như con sư tử quay ngược lại ( nhảy xổ tới các ông). Cho nên thầy ta mới nêu lên với các ông rằng, “Đề Bà Tông, Đề Bà Tông, Dưới lá cờ đỏ gió phất phơ.” Ba Lăng nói, “ Trong chén bạc đầy tuyết.” Tại sao Tuyết Đậu lại nói, “ Dưới lá cở đỏ gió phất phơ?” Các ông đă biết là Tuyết Đậu giết người mà không dùng dao chăng?

 

TẮC THỨ MƯỜI BỐN

MỘT LỜI ĐÚNG CỦA VÂN MÔN

CỬ: Có ông tăng hỏi Vân Môn, “ Thế nào là giáo lư của cả một thời đại (của Phật)? Vân Môn nói, “Một lời đúng.”

B̀NH: Các người học Thiền, nếu như muốn biết ư nghĩa của Phật tính, cần phải quán thời tiết nhân duyên. Đấy gọi là giáo ngoại biệt truyền, trao riêng tấm ấn, trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật. Đức Phật Thích Ca suốt bốn mươi năm trụ thế, trong ba trăm sáu mươi hội, nói Pháp về đốn tiệm quyền thực. Đó gọi là giáo lư của cả một thời đại. Ông tăng nếu vấn đề ấy lên mà hỏi, “ Thế nào là giáo lư của cả một thời đại?” Vân Môn tại sao không giải thích cặn kẽ cho 6ong tăng mà chỉ nói với ông ta, “ Một lời đúng”.Cái mà thông thường chúng ta gọi là một câu gồm đủ ba câu của Vân Môn là: câu bao che trời đất, câu tùy theo sóng, câu cắt đứt các ḍng nhánh. Buông ra thu lại, kỳ đặc một cách tự nhiên. Như thể chật đinh bẻ sắt, khiến người ta không biết đường nào mà hiểu ư nghĩa của câu nói hay đoán ra được con người của thầy ta.

Một kho giáo lư chỉ ở nơi ba chữ này, bốn phương tám hướng không có chỗ nào đế các ông dùi đục cả. Người ta thường hiểu lầm mà nói rằng (giáo lưcủa Đức PHật) chỉ được dạy để thích hợp với một hoàn cảnh nhất định nào đó mà thôi.lại nói, “Sâm la vạn tượng chỉ chổ ẩn nấp của Pháp,” rồi bảo rằng đó chính là ư nghĩa của “ một lời đúng”. Có kẻ nói, “ Chỉ là nói về một Pháp đó mà thôi.” Song chẳng có ǵ là đúng cả.Nói như thế không những là không hiểu mà c̣n xuống địa ngục nhanh như tên bắn. Đâu có biết rằng ư cổ nhân đâu có phải là như thế.

Cho nên mới có câu nói, “ Tan xương nát thịt, cũng chưa đủ trả; hiểu được một câu, vượt qua trăm ức.” Kỳ đặc hết sức. “ Thế nào là giáolư của cả một thời đại?” tại sao lại chỉ nằm ở “một lời đúng”? Nếu như hiểu được câu nói, các ông có thể về nhà ngồi yên. Nếu không hiểu được, xin lắng nghe lời phân xử:

TỤNG: 

Một lời đúng

Quá siêu tuyệt!

Đóng chốt vào tấm sắt không lỗ,

Dưới cây Diêm Phù[18] cười ha ha !

Đêm qua rồng hiển bị gẫy sừng,

Thiều Dương lăo nhân[19] được một sừng.

B̀NH: “ Một lời đúng quá siêu tuyệt!’ Tuyết Đậu tán thán Vân Môn không xiết. Những lời này đúng là siêu quần xuất loại, không tiền khoánghậu, giống như thể vách đá vạn trượng. Lại cũng giống như một đội quân trăm vạn người, không có chỗ nào đế các ông vào cả, chỉ v́ nó cao vút lừng lững quá. Cổ nhân nói, “ Nếu như ông muốn vào gần được, đừng dùng câu hỏi ra mà hỏi câu hỏi, câu hỏi nằm trong câu trả lời, câu trả lời là đầu mối của câu hỏi.”Quả là cao vút lừng lững, song thử nói xem chỗ nào cao vút lừng lững ở chỗ nào? Cả thiên hạ chẳng ai làm ǵ được cả.

Ông tăng này cũng là một tay thông thạo, cho nên mới hỏi như thế được. Vân Môn lại trả lờinhư thế, giống y như đóng chốt vào một tấm sắt không có lỗ. Tuyết Đậu sử dũng văn chương một cách khéo léo hết sức.

Ông tăng này cũng là một tay thông thạo, cho nên mới hỏi như thế được. Vân Môn lại trả lời như thế, giống y như đóng chốt vào một tấm sắt không có lỗ. Tuyết Đậu sử dụng văn chương một cách khéo léo hết sức. “ Dưới cây Diêm Phù cười ha ha!” Kinh Khởi Thế nói, “Ở phương nam của núi Tu Di, có cây lưu ly chiếu sáng Diêm Phù Đề Châu khiến mọi vật đều có màu xanh . Châu này do cây này mà có tên, cho nên mới gọi là Diêm Phù Đề Châu. Cây này cao bảy ngàn do tuần[20], phía dưới là các Diêm Phù đàn cao hai mưoi do tuần. Vi vàng sinh ra ở dưới cây chonên cây này mới có tên là cây Diêm Phù.

Tuyết Đậu tự nói rằng thầy ta cười  ha hả dưới cây Diêm Phù. Thử nói xem, thầy ta cười cái ǵ vậy? Thầy ta cười con rồng biển đêm qua bị gẫy sừng. Tuyết Đậu chỉ biết chiêm ngưỡng mà hết lời tán thán Vân Môn. Khi Vân Môn nói, “ Một lời đúng,” th́ như thế nào? Giống như thể bẻ gẫy một sừng của con rồng biển vậy. Đến chỗ này , nếu như không có việc như thế th́ tại sao thầy ta lại nói như thế?

Tuyết Đậu một lúc tụng tất cả, song đến cuối lại nói, “Đặc biệt thật, đặc biệt thật. Thiều Dương Lăo Nhân được một sừng.” Tại sao không nói là được cả hai? Tại sao lại chỉ được một sừng? Thừ nói xem , c̣n một sứng kia ở đâu?
 
 

TẮC THỨ MƯỜI LĂM

MỘT CÂU NÓI NGƯỢC CỦA VÂN MÔN

THÙY:  Đao giết người,kiếm  cứu người. Phong qui của người xưa, cốt yếu của đời nay. Thử nói xem, đao giết người là ǵ? Kiếm cứu người là ǵ? Thử nêu lên xem . Có ông tăng hỏi Vân Môn.

CỬ: “Không phải là tâm cơ trước mắt, cũng chẳng phải là sự việc trước mắt, lúc ấy th́ như thế nào?” Vân Môn nói, “ Một câunói ngược.”

B̀NH: Ông tang này quả là một tay thông thạo cho nên mới biết hỏi như thế. Câu hỏi thoạt tiên có vẻ như là hỏi thêm, song thật ra là để giải bày chỗ hiểu biết của ḿnh. Đó cũng gọi là câuhỏi có ẩn tàng mũi nhọn trong ấy. Nếu như không phải là Vân Môn, khó có ai biết phải đối xử như thế nào với ông tăng này. Song có khả năng như Vân Môn th́ khi có câu hỏi đặt ra không thể không trả lời. Tại sao vậy? Vị thầy thành thạo th́ giống như thể một tấm gương sáng trên giá. Nếu như có người Hồ[21] đi ngang th́ có bóng người Hồ hiện trên gương , có người hán đi ngang th́ có bóng người Hán hiện trên gương.

Cổ nhân nói, “ Nếu như muốn hiểu thấu, đừng nên lấy câuhỏi ra mà hỏi câu hỏi. Tại sao vậy? Bởi v́ câh hỏi nằm trong câu trả lời và câu trả lời nằm trong câu hỏi. Các bậc thánh đâu từng có một vật ǵ cho người khác đâu? Làm ǵ mà có Thiền với Đạo cho các ông? Nếu như các ông không tạo nghiệp địa ngục th́ sẽ không phải rước lấy quả địa ngục.Nếu như không tạo nhân thiên đàng th́ sẽ không đạt được quả thiên đàng. Tất cả các nghiệp duyên đều là tự làm tự chịu. Cổ nhân đă nói rơ ràng với các ông, “ Nếu luận việc này, th́ không nằm ở ngôn cú. Nếu như hệ ở ngôn cú th2i tam thừa mười hai phần giáo, há không phải đều là ngôn cú cả sao? Làm ǵ cần phải có Tổ Sư từ Ấn Độ sang nữa?”

Trong tắc trên Vân Môn nói, “ Một lời đúng.” Ở đây Vân Môn lại nói, “Một lời ngược.” Chỉ khác mỗi một chữ mà tại sao lại có thiên sai vạn biệt như thế? Thử nói xem, các rắc rối là ở chỗ nào?

Cho nên mới có câu nói, “ Pháp được thực hành theo pháp[22], Pháp tràng được kiến lập tùy theo chỗ.” “Không phải là tâm cơ trước mắt cũng chẳng phải là sự vật trước mắt, lúc ấy như thế nào?” Câu ấy chỉ đáng người ta gật đầu một cái mà thôi. Nếu như là người có mtắ, chẳng thể lừa được người ấy chút nào. Bởi v́ câu hỏi hơi rắc rối cho nên câu trả lời cũng phải như thế. Kỳ thực Vân Môn đang cưỡi ngựa của kẻ trộm. Có người hiểu lầm nói rằng, “ Vốn dĩ là lời của chủ, song khách lại nói mất.” Cho nên Vân Môn mói nói, “ Một lời ngược”. Song đâu có ǵ là đúng.

Ông tăng kia hỏi rất hay, “ Không phải là tâm cơ trước mắt, cũng không phải là sự vật trước mắt,lúc ấy như thế nào?” Tại sao Vân Môn không trả lời ǵ khác mà chỉ nói, “ Một lời ngược.” Vân Môn trong một lúc đập tan hết ( kiến chấp của) ông ttăng kia. Tuy nhiên đến chỗ này rồi mà c̣n nói, “ Một lời ngược,” th́ giống y như thể là khoét một vết thương trên da thịt lành. Tại sao vậy? “Một khi ngôn ngữ khởi lên là lập tức có nhiều dị kiến.” Nếu như không có ngôn ngữ, th́ chiếc cột trụ này chiếc đèn giấy kia từng bao giờ có ngôn ngữ? Các ông đă hiểu chưa? Nếu đến chỗ này rồi mà vẫn chưa hiểu, các ông cần phải xoay chuyển lắm mới có thể hiểu được cái cốt yếu của vấn đề này.

TỤNG:

Một lời ngược,

phân từng tiết.

Đồng tử đồng sinh cùng quyết đoán,

Tám vạn bốn ngàn phải lông phượng?

Ba mươi ba người vào hang cọp,

Đặc biệt thật!

Bóng trăng trong ḍng nước chảy xiết.

B̀NH: Tuyết Đậu quả là một tay thành thạo. Dưới câu thứ nhất lại nói thêm “ phân từng tiết.” Rơ ràng buông bỏ hết để nắm tay cùng đi với Vân Môn[23]. Tuyết Đậu có khả năng buông bỏ tất cả, thầy ta dám vào bùn vào nước với các ông, dám sống dám chết với các ông. Cho nên Tuyết Đậu mới tụng như thế. Kỳ thực thầy ta chỉ muốn cởi bỏ các dính dấp, nhổ đinh bạt chốt cho các ông mà thôi.

Ngày nay thiên hạ lại bị vướng vào ngân ngữ mà sinh ra kiến chấp. Như Nham Đầu nói, “ Tuy Tuyết Phong cùng sinh trong một ḍng với ta, song lại không chết cùng một ḍng với ta.”Nếu như Vân Môn không phải là người nh́n thấu tất cả mọi tâm cơ làm thế nào thầy ta có thể đồng sinh đồng tử với các ông được? Tại sao thầy ta có khả năng như thế? Bởi v́ Vân Môn đă thoát ra khỏi tất cả các lậu pháp như được mất, thị phi rồi. Cho nên Động Sơn nói, “ Nếu như muốn phân biện được cái người tu đạo hướng thượng kia là chân hay ngụy th́ có ba loại lậu pháp ( làm tiêu chuẩn): t́nh lậu, kiến lậu và ngữ lậu. Nếu như c̣n kiến lậu th́ tâm cơ không rời chỗ cổ định được và người ta bị ch́m vào biển độc. Nếu như c̣n t́nh lậu th́ trí thức dao động và chỗ kiến giải của người ta rơi vào thiên chấp. Nếu như c̣n ngữ lậu th́ người ta đánh mất cái căn bản của diệu thể, tâm cơ không phân biệt được thủy chung. Các ông phải tự biết lấy ba lậu pháp này.

Ngoài ra cũng có ba cái huyền diệu: huyền diệu bên trong thể, huyền diệu trong câu nói , và huyền diệu trong huyền diệu. Cổ nhân đến chổ này rồi, kể như đạt được toàn cơ đại dụng. Gặp sinh đồng sinh với các ông, gặp tử đồng tử với các ông. Họ (cổ nhân) nằm trong miệng hổ, buông thơng tay chân, ngàn dặm vạn dặm tùy theo sự dẫn dắt của các ông. Tại sao vậy? Các ông phải đối lại với họ một điều này th́ mới được.

“Tám vạm bốn ngàn phải lông phượng?” Đó là tám vạn bốn ngàn thánh chúng trên núi Linh Thứu. “ Không phải là long phượng”: sách Nam Sử nói rằng đời nhà Lưu Tống (420-479) có Hứa Siêu-tông là người Dương Hạ thuộc Trần quận là con của Hứa Phượng vốn là người bác học, văn tài xuất chúng. Trong triều đ́nh không có ai so sánh được với ông, người đường thời cho là nhân tài độc đáo nhất. Giỏi làm văn cho nên làm chức thượng thị ở Vương Phủ. Lúc Vương Mẫu là Ân Thục mất. Siêu-Tông làm bài văn viếng dâng lên. Vũ Đế (trị v́ 454-464) đọc bài văn, tán thưởng nồng nhiệt rằng, “ Siêu-Tông quả thật có lông phượng.” Có bài thơ cổ như sau,Triều băi khói mây đầy tay áo, thơ thành châu ngọc trong nét bút.Muốn biết lời chiếu vua hay đẹp, hiện giờ trên hồ có lông phượng.” Ngày xưa trên hội Linh sơn, tứ chúng [24]  tụ họp đông đảo, đức Thế Tôn đưa cành hoa lên, chỉ độc có ngài Ca Diếp khẽ động nét mặt mĩm cười, tất cả những người khác không hiểu đó là tông chỉ ǵ. Cho nên Tuyết Đậu mới nói, “ Tám vạn bốn ngàn phải lông phượng, ba mươi ba người vào hang cọp.”

A Nan hỏi Ca Diếp, “Đức Thế Tôn ngoài việc truyền lại Kim lam cà sa, có truyền riêng pháp ǵ nữa không?” Ca Diếp gọi, “ A Nan!” A Nan đáp lại.Ca Diếp nói, “ Gỡ cột treo phán trước cổng chùa xuống.” Sau đó sự truyền thừa từ vị tổ này cho vị tổ khác, kể cả Ấn Độ lẫn Trung Hoa gồm có ba mươi vị. Tất cả đều có khả năng vào hang cọp. Cổ nhân nói, “ không vào hang cọp, làm sao bắt được cọp con?” Vân Môn chính là loại người này, sẵn sàng đồng sinh đồng tử với người khác.Bậc thầy trong Thiền tông muốn giúp người khác, cần phải được như vậy. Ngồi trên ghế của bậc thầy,giúp cho các không đập vỡ được ( các kiến chấp) và dám vuốt râu cọp.Phải đạt đến mức độ này th́ mới đủ khả năng làm thầy. Phải có đầy đủ bảy điều kiện nơi ḿnh th́ mới có thể đồng sinh đồng tử với người khác được. Cái ǵ cao th́ đè xuống, những kẻ thấp th́ nâng lên, những kẻ thiếu th́ cho thêm. Những kẻ ở trên đỉnh cao th́ cứu xuống nơi đồng hoang, c̣n những kẻ lạc nơi đồng hoang th́ cứu lên đỉnh cao. “ Nếu như các ông vào văc dầu ḷ than, ta cũng vào vạc dầu ḷ than.” Kỳ thực chẳng có ǵ cả, chỉ v́ muốn gỡ những cái dính dấp, nhổ đinh bạt chốt, tháo cương gỡ yên cho các ông. B́nh Điền ḥa thượng có một bài tụng hết sức tuyệt: “ Linh quang không mờ, kế nay vạn cổ. Vào tông môn này, đừng nuôi kiến chấp.” Đặc biệt thật! Bóng trăng trong ḍng nước chảy xiết.” Quả là có cách xuất thân, cũng như có tâm cơ để cứu người. Tuyết Đậu nêu lên, để người khác tự giác ngộ lấy sinh cơ của ḿnh. Đừng có theo lời nói của người khác, nếu như các ông theo lời nói của người khác th́ đúng là bóng trăng trong ḍng nước chảy xiết. Các ông làm thế nào để đạt được b́nh an đây? Buông bỏ một lần đi!
 
 

TẮC THỨ MƯỜI SÁU

NGƯỜI TRONG CỎ CỦA KÍNH THANH

THÙY: Đạo không có đường  tẻ, đứng nơi đó (là đứng nơi) đơn độc và nguy hiểm. Pháp không thuộc nơi kiến văn, vượt ngoài ngôn ngữ và tư tưởng. Nếu như các ông có thể đi qua được rừng gai góc, giải được các hệ phược của Phật và Tổ, là các ông đă được nơi chốn an ổn, chỗ chư thiên không có lối để dâng hoa, ngoại đạo hết cửa để nḥm ngó. Lúc ấy suốt ngày đi mà không từng đi, suốt ngày nói mà không từng nói, tha hồ tự do tự tại mà khai triển phương tiện sử dụng sát hoạt kiếm. song dù có đạt được mức độ như vậy đi nữa các ông vẫn nên biết rằng bên trong cánh cửa phương tiện có một tay nâng lên một tay đè xuống. Tuy nhiên như thế hăy c̣n có chút (chấp trước). Nếu nói về sự việc căn bản, th́ điều này chẳng có ǵ là nhằm nḥ cả. Thế nào là sự việc căn bản? Xin thử nêu lên xem.

CỬ: Có ông tăng hỏi Kính Thanh, “Đệ tử cắn, xin thầy mổ.” Kính Thanh nói, “ C̣n sống được không?” Ông tăng nói, “ Nếu không sống được thế nào cũng bị người ta chê cười.” Kính Thanh nói, “Ông cũng là một người trong cỏ.”

B̀NH: Kính Thanh thừa tự Tuyết Phong và sống đồng thời với Bổn Nhân, Huyền Sa, Túc Sơn , và Thái Nguyên Phù. Lúc đầu gặp Tuyết Phong đắc được tông chỉ, sau đó thường dùng phương tiện cắn mổ để khai thị những kẻ hậu học. Thầy ta rất khéo thuyết pháp hợp với căn cơ của người nghe.

Một lần kia Kính Thanh dạy chúng rằng, “Phàm những kẻ hành cước cần phải có đôi mắt “ cắn mổ” cùng với đại dụng “cắn mổ” th́ mới xứng đáng để xưng ḿnh là nạp tăng. Giống như lúc gà mẹ cắn th́ gà con không thể mổ, lúc gà con mổ th́ gà mẹ không thể không cắn”. Có ông tăng bước ra hỏi, “ Lúc gà mẹ cắn gà con mổ, theo quan điểm của ḥa thượng th́ như thế nào?’ Kính Thanh nói, “ Tin lành thật.” Ông tăng nói, “ Lúc gà con mổ gà mẹ cắn theo quan điểm của người học th́ như thế nào?” Kính Thanh nói, “Để lộ diện mục.” Cho nên mới nói là trong môn hạ của Kính Thanh có phương tiện “cắn mổ” là thế.

Ông tăng này cũng là khách của họ, cho nên mới hiểu sự việc trong nhà của họ. V́ vậy ông ta mới hỏi, “Đệ tử cắn , xin thầy mổ.” Trong ḍng của Động Sơn loại câu hỏi này được gọi là mượn sự để hỏi về (tâm) cơ.Tại sao lại như vậy? Lúc gà con mổ gà mẹ cắn tự nhiên là phù hợp đồng thời.Kính Thanh cũng rất hay, có thể nói là quyền cước tương ưng, tâm nhăn tương chiếu. Cho nên bèn đáp ngay rằng, “ C̣n sống được không?” Ông tăng cũng hay , biết thay đổi theo t́nh huống. Trong một câu này của Kính Thanh có chủ có khách, có chiếu có dụng, có giết có cứu. Ông tăng nói, “Nếu không sống được thế nào cũng bị người ta cười chê.” Kính Thanh nói, “Ông cũng là một người trong cỏ.” Lúc nào cũng lội trong nước trong bùn, Kính Thanh rất khéo léo trong việc này.

Ông tăng đă biết hỏi như thế, tại sao Kính Thanh lại nói, “Ông cũng là một người trong cỏ.” Bởi v́ đôi mắt của một tay thành thạo th́ phải như thế, giống như ánh đá lửa, điện chớp. Có với được đến hay không cũng khó mà đừng tan thân mất mạng. Nếu như các ông như thế, các ông sẽ thấy rằng Kính Thanh gọi ông tăng kia là người trong cỏ.

Cho nên Nam Viện dạy chúng rằng, “ Người các nơi chỉ có đôi mắt “ cắn mổ” đồng thời chứ không có đại dụng “ cắn mổ” đồng thời. Có ông tăng bước ra hỏi, “ Thế nào là đại dụng “ cắn mổ” đồng thời?” Nam Viện nói, “ Kẻ thành thạo không cắn mổ. Cả cắn lẫn mổ đều sai.” Ông tăng nói, “Đệ tử vẫn c̣n có chỗ nghi.” Nam Viện nói, “ Chỗ nghi của ông là ǵ?” Ông tăng nói, “Sai”. Nam Viện bèn  đánh. Ông tăng không đồng ư, Nam Viện bèn đuổi ông tar a.

Sau ông tăng này đến nơi chúng hội của Vân Môn kể lại câu chuyện trên. Có ông tăng hỏi, “ Thế gậy của Nam Viện có bị găy không?” Ông tăng kia bèn hoát nhiên tỉnh ngộ. Thử nói xem, ư nghĩa của câu chuyện này là ở chỗ nào? Ông tăng kia bèn trở về để ra mắt Nam Viện , song Nam Viện đă mất, cho nên bèn vào gặp Phong Huyệt. Ông ta vừa cuối lạy, Phong Huyệt nói, “Ông có phải là ông tăng hỏi tiên sư về việc cắn mổ đồng thời không?” Ông tăng nói, “ Vâng”. Phong Nguyệt nói, “ Lúc ấy ông hiểu như thế nào?” Ông tăng nói, “ Lúc ấy kẻ hèn này giống như thể đi dưới bóng đèn.” Phong Huyệt bèn nói với ông tăng, “Ông hiểu rồi.” Thử nói xem như vầy là thế nào? Ông tăng kia chỉ đến mà nói rằng, “ Lúc ấy kẻ hèn này giống như thể đi dưới bóng đèn.” Tại sao Phong Huyệt lại nói với ông ta rằng, “Ông hiểu rồi”?

Sau này Thúy Nham niệm rằng, “ Mặc dù Nam Viện bày vẽ kế hoạch trong trại của ḿnh, song đất rộng người thưa, kẻ tri âm ít.” Thúy Nham b́nh rằng, “ Lúc ấy nếu như ông ta vừa mở miệng Nam Viện lập tức đánh, xem ông ta như thế nào?” Nếu như các ông thấy được công án này th́ các ông sẽ thấy được chỗ ông tăng kia và Kiến Thanh gặp nhau. Làm thế nào để tránh khỏi bị Kính Thanh gọi là người trong cỏ? Cho nên Tuyết Đậu v́ thích Kính Thanh nói “ người trong cỏ” mới tụng.

TỤNG: 

Cổ Phật có gia phong,

Đối đáp bị dè bỉu.

Mẹ con không biết nhau,

Hỏi ai cùng cắn mổ?

Cắn, tỉnh,

C̣n trong vỏ.

Bị đánh thêm,

Thiên hạ nạp tăng mơ vô ích.

B̀NH: “Cổ Phật có gia phong”, chỉ một câu đó thôi Tuyết Đậu đă tụng hết “công án” này rồi. Những kẻ tḥ mặt ra chẳng thể nào đến gần được. Nếu như đến gần được th́ sẽ bị rơi từ đỉnhcao vạn trượng. Ngay khi các ông vừa tḥ đầu ra , là các ông đă rơi vào cỏ. Dù cho các ông có tung hoành được đinữa, cũng chẳng đáng để ra sức. Tuyết Đậu nói, “ Cổ Phật có gia phong.” Không phải bây giờ mới như thế.Lúc đức Thích Ca mới sinh ra, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất, mắt nh́n bốn phương nói, “ Thiên thượng thiên hạ duy ngă độc tôn.” Vân Môn nói, “ Nếu như lúc đó ta mà thấy ông ta, ta sẽ đập cho một gậy chết tốt rồi ném cho chó ăn, để mong cho thiên hạ được thái b́nh.” Chỉ như vậy người ta mới trả lời thích đáng được. Cho nên các phương  tiện cắn mổ đều là gia phong của cổ Phật.

Nếu như các ông đạt được đạo này, các ông có thể một quyền đấm đổ Hoàng Hạc Lâu,một cước đá loạn Anh Vũ Châu[25].Giống như thể một khối lửa, ai đến gần sẽ bị cháy mặt. Giống như Thái A Kiếm, ai đùa rỡn với nó sẽ tang thân mất mạng. Việc này chỉ có những ai đă thấu thoát, đă được giải thoát mới có thể như thế được. C̣n nếu như mê mờ căn nguồn vướng mắc ngôn ngữ th́ không cách chi mà nắm bắt được cách nói chuyện này.

“Đối đáp bị dè bỉu.” Đây chính là một chủ một khách một vấn một đáp. Ngay trong vấn đáp đă có dè bỉu. Đó gọi là “đối đáp bị dè bỉu”. Tuyết Đậu thâm hiểu việc này, cho nên chỉ tụng tất cả trong hai câu.

Cuối cùng Tuyết Đậu đi vào băi cỏ để giải thích thấu triệt cho các ông. “ Mẹ con không biết nhau, hỏi ai cũng cắn mổ?’ Tuy gà mẹ cắn, song cũng không thể khiến gà con mổ ra. Tuy gà con mổ ra, song cũng không thể khiến gà mẹ cắn. Gà mẹ gà con không biết nhau, vào lúc cắn mổ, ai đồng thời cắn  mổ? Nếu hiểu như vậy cũng chưa thể thoát ra khỏi câu cuối cùng của Tuyết Đậu được. tại sao? Há không nghe Hương Nghiêm nói, “ Con được. Tại sao? Há không nghe Hương NGhiêm nói, “ Con mổ mẹ cắn, con tỉnh không vỡ. Mẹ con đều quên, ứng duyên không sai. Cùng đường xướng họa, huyền diệu độc hành.” Tuyết Đậu đúng là lạc vào băi cỏ gây rắc rối nói rằng, “ Cắn” .Một chữ này tụng câu trả lời của Kính Thanh rằng, “ c̣n sống được không?” “Tỉnh” là để tụng câu trả lời của ông tăng rằng, “ Nếu không sống được thế nào cũng bị người ta chê cười.” Tại sao Tuyết Đậu lại nói, “ C̣n trong vỏ”? Tuyết Đậu phân biệt được trắng đen trong ánh đá lửa, biện rơ được đầu mối của sự vật vớitâm cơ như điện chớp.

Kính Thanh nói, “Ông cũng là người trong cỏ” Tuyết Đậu nói, “ Bị đánh thêm.” Chỗ này có hơi khó Kính Thanh nói, “Ông cũng là người trong cỏ”. Có thể bảo là Kính Thanh móc mắt ông tăng kia đi được chăng? Câu này phải chăng nói rằng ông ta vẫn c̣n trong vỏ? Nhưng mà những điều này chẳng có ǵ là đúng cả. Tại sao lại thế? Nếu như hiểu được, người ta có thể đi hành cước khắp nơi mà vẫn báo ơn (cho thầy) được.Lúc sư núi tôi nói như thế, th́ cũng hóa ra người trong cỏ rồi.

“Thiên hạ nạp tăng mồ vôích.” Ai là kẻ không đặt tên và mô tả? Đến chổ này Tuyết Đậu không đặt tên hay mô tả được, song lại làm lụy người khác, các nạp tăng trong thiên hạ. Thử nói xem, đâu là chỗ Kính Thanh v́ ông tăng kia? Các nạp tăng trong thiên hạ không ai nhảy ra khỏi được cả.

TẮC THỨ MƯỜI BẢY

HƯƠNG LÂM NGỒI LÂU

THÙY: Chặt đinh cắt sắt, mới có thể là tông sư của bổn môn. Né tên sợ đao, sao có thể là tay thông thạo?Tạm không nói đến chỗ mà mũi kim xuyên không lọt.Thử nói xem lúc sóng rắng cuốn tận trời th́ như thế nào? Thử nêu lên xem.

CỬ:Có ông tăng hỏi Hương Lâm, “ Thế nào là ư của Tổ Sư từ Tây thiên qua?” Hương Lâm nói, “Ngồi lâu thấm mệt.”

B̀NH: Hương Lâm nói, “ Ngồi lâu thấm mệt.” Hiểu không? Nếu hiểu được th́ trên trăm ngọn cỏ băi can qua. Nếu không hiểu th́ hăy lắng nghe phân xử. Cổ nhân hành cước, chọn bạn làm đồng hành, thường phác có mà ngóng gió. Lúc Vân Môn hoàng đạo ở Quảng Nam,th́ Hương Lâm mới rời đất Thục. Thầy ta là người đồng thời với Nga Hồ vá Kính Thanh. Thoạt tiên đến tham Thiền ở Chùa Báo Từ, Hồ Nam; sau mới đến chúng hội của Vân Môn, làm thị giả cho Vân Môn suốt mười tám năm.

Ở nơi của Vân Môn,Hương Lâm tự đắc tự nghe. Thầy ta tuy ngộ trễ, song quả là bậc đại căn khí. Đứng hầu Vân Môn suốt mười tám năm, Vân Môn đă nói, “ Cái ǵ đây?” Lúc ấy Hương lâm tŕnh kiến giải của ḿnh lên không biết bao nhiêu lần, song rốt cuộc vẫn không khế hợp với ư chỉ của Vân Môn. Một hôm hốt nhiên nói,” Đệ tử hiểu rồi!” Vân Môn nói, “ Tại sao không nói một cái ǵ siêu việt hơn?” Hương Lâm lại ở thêm ba năm nữa. Những điều Vân Môn giảng về đại cơ, phần lớn là đều v́ Hương Lâm. Viễn thị giả ghi lại cả. Sau đó Hương Lâm trở về Thục.Lúc đầu ở Thủy Tinh Cung Tự ở Đạo Giang, sau mới về chùa Hương Lâm ở Thanh Thành.

Trí Môn Tộ ḥa thượng vốn người Chiết Giang, nghe nhiều về việc hóa đạo của Hương Lâm, mới đặc biệt đến Thục để ra mắt. Tộ là thầy của Tuyết Đậu. Vân Môn tuy rằng dạy vô số đệ tử, song lúc ấy luận về đạo hạnh th́ phái của Hương Lâm là thịnh nhất. Sau này trở về Thục ở trong các tự viện suốt bốn mươi năm, đến tám mươi tuổi mới mất. Lúc b́nh sinh thường nói, “ Ta măi đến năm bốn mươi tuổi mới thân tâm thuần nhất.”

Hương Lâm hay dạy chúng rằng, “ Phàm lúc đi hành cước để t́m kiếm thiện tri thức, cần phải đem theo mắt để mà phân đen trắng, thấy nông sâu th́ mới được. Trước tiên hết phải lập chí, giống như đức Thích Ca Mâu Ni lúc hăy c̣n ở nhân địa. Bất cứ một lời nói thốt ra hay một ư niệm khởi lên đều là để lập chí.”

Sau đó có ông tăng hỏi, “ Thế nào là một ngọn đèn trong pḥng?” Hương Lâm nói, “ Nếu như có ba người khăng khăng rằng nó là con rùa th́ nó là con rùa.” Ông tăng lại hỏi, “ Thế nào là việc dưới áo nạp?” Hương Lâm nói, “ Lửa tháng chạp thiêu núi.” Xưa nay có rất nhiều câu trả lời cho câu hỏi “ thế nào là ư nghĩa của Tổ Sư từ Tây Thiên qua?”Song chỉ có Hương Lâm ở đây là làm líu hết lưỡi thiên hạ. Không c̣n chỗ để cho các ông so đo lư luận. Ông tăng hỏi, “ Thế nào là ư của Tổ Sư từ Tây thiên qua? Hương Lâm nói, “ Ngồi lâu thấm mệt.” Có thể nói đây là lời vô vị, câu vô vị, chuyện vô vị, làm nghẹn miệng người ta khiến  người ta không có chỗ mà thở. Nếu như thấy được là thấy được ngay, c̣n nếu không kỵ nhất là sinh kiến chấp.

Hương Lâm từng gặp các tay thành thạo đến hỏi, cho nên mới có kỹ thuật của Vân Môn cũng như thể điệu của “ba câu”. Người ta hay hiểu lầm nói rằng, “ Tổ sư từ Tây Thiên qua, chín năm ngồi ( Thiền) quay mặt vào vách. Phải chăng đó là ngồi lâu thấm mệt?” Nói vậy đâu có căn cứ ǵ đâu? Không thấy được rằng cổ nhân đa71c đại tự tại, chân dẫm lên đất thật, chẳng có nhiều tri kiến ǵ về Phật Pháp cả, chỉ tùy thời ứng dụng mà thôi. Câu nói rằng, “ Pháp tùy pháp hành, Pháp tràng tùy chỗ mà kiến lập.” Tuyết Đậu nhân gió mà thổi thêm lửa vào tụng của thầy ta.

TỤNG:

Một người hai người ngàn vạn người,

Tháo hết giây cương cởi hết yên.

Xoay trái xoay phải theo sau đến,

Tử Hồ muốn đánh Lưu Thiết Ma.

B̀NH: Tuyết Đậu trực tiếp như đá lửa như điện chớp, đẩy cả ra cho các ông thấy, song các ông chỉ có thể thấy được nếu như vừa nghe nêu lên đă hiểu ngay. Thầy ta quả là gịng dơi trong nhà Hương Lâm, cho nên mới có thể nói như thế được. Nếu như các ông có thể hiểu ngay như thế, quả là kỳ đặc hết sức. “ Một cái hai cái ngàn vạn cái, tháo hết giây cương gỡ hết yên.” Thanh thoát tự tại không bị sinh tử nhiễm, không bị trói buộc bởi sự phân biệt v́ kiến chấp phàm thánh. Trên không có ǵ để ngưỡng vọng, dưới cắt đứt ngă chấp. Giống như thể Hương Lâm và Tuyết Đậu,làm sao lại chỉ có ngàn vạn người? đnúg ra t́ tất cả mọi người trong trời đất này đều như thế cả. Phật trước Phật sau cũng đều như thế.

Nếu như các ông định t́m chổ hiểu trong  ngôn ngữ th́ cũng giống như “ Tử Hồ muốn đánh Lưu Thiết Ma.” Kỳ thực, ngay khi các ông vừa đáp lại như thế là  Tuyết Đậu đă đánh rồi. Tử Hồ tham học với Nam Tuyền, là người đồng thời với Triệu Châu và Đại Trùng Sâm. Lúc ấy Lưu Thiết Ma dựng thảo am dưới chân núi Qui Sơn. Người các nơi chẳng ai làm ǵ được. Một hôm Tử Hồ dương dương tự đắc đến hỏi, “ Phải Lưu Thiết Ma đó chăng?” Lưu Thiết Ma nói, “ Không dám.” Tử Hồ nói, “ Xoay về bên phải hay xoay về bên trái?” Lưu Thiết Ma nói, “ Ḥa thượng chớ có điên đảo.” Chưa trả lời dứt Tử Hồ đă đánh.

Ông tăng kia hỏi, “ Thế nào là ư của Tổ Sư từ Tây Thiên qua?” Hương Lâm đáp, “ Ngồi lâu thấm mệt.” Nếu các ông hiểu được như thế là các ông “ Xoay phải trái theo sau đến.” Thử nói xem, Tuyết Đậu tụng như vậy có nghĩa là ǵ?

 

TẮC THỨ MƯỜI TÁM

TÚC TÔNG THỈNH PHÁP

CỬ: Túc Tông Hoàng Đế hỏi Huệ Trung quốc Sư, “ Trăm năm sau cần có vật ǵ?” Quốc Sư nói, “ Xin bệ hạ xây cho tôi một  ngôi tháp không đường vá.” Túc Tông nói, “ Xin thầy cho tôi biết tháp ấy giống như thế nào?” Quốc Sư im lặng hồi lâu hỏi, “ Bệ hạ hiểu không?” Túc Tông nói, “ Không hiểu.” Quốc Sư nói, “ Tôi có người đệ tử truyền Pháp là Trầm Nguyên rất hiểu việcnày, xin Bệ Hạ vời người ấy vào mà hỏi.” Sau khi Quốc Sư mất, Túc Tông vời Trầm Nguyên vào hỏi ư nghĩa của việc trên. Trầm Nguyên nói, “ Phía nam Tương, phía bắc Đàm.” Tuyết Đậu b́nh rằng, “ Tiếng một bàn tay không kêu lớn.” Ở giữa có vàng cho cả nước. Tuyết Đậu b́nh rằng, “ Cây trượng cổ quái.” Dưới cây không bóng từng đoàn thuyền. Tuyết Đậu b́nh rằng “ Biển yên sông trong.” Trong đền lưu ly không tri thức. Tuyết Đậu b́nh rằng,” Nêu lên rồi.”

B̀NH: Túc Tông và Đại Tông đều là ḍng dọi của Huyền Tông. Lúc c̣n là thái tử đều rất thích tham Thiền. V́ trong nước có giặc lớn,[26] Huyền Tông phải trốn qua Thục. Nhà Đường vốn đóng đô ở Trường An, sau v́ bị An Lộc Sơn chiếm cứ, cho nên phải thiên đô về Lạc Dương. Lúc Túc Tông lên nắm quyền, Huệ Trung Quốc Sư đangở trong một ngôi am trên Bạch Nhai Sơn ở Đặng Châu. Nay là Hương Nghiêm Đạo Tràng. Mặc dù suốt bốn mươi năm trời Huệ Trung không bao giờ hạ sơn, song đạo hạnh của sư cũng vang dội đến cung vua. Năm Thương Nguyên thứ hai (761) Túc Tông sai sứ mời Huệ Trung nhập nội. Túc Tông đối với Sư đầy đủ nghi lễ như đối với bậc thầy và kính trọng Sư vô cùng, Huệ Trung thường giảng về đao tối thượng cho Túc Tông. Mỗi khi Sư rời triều, Túc Tông đích thân xin xe mà đưa tiễn. Các quan trong triều đều lấy làm bực và muốn tâu điều ấy lên Túc Tông. Huệ Trung có tha tâm thông [27]cho nên vào gặp Túc Tông trước và nói rằng, “ Tôi trước mắt Thiên Đế Thích, thấy thiên tử nhiều như gạo văi, như ánh điện chớp.” Túc Tông lại c̣n sinh ḷng kính trọng thêm nữa.

Lúc Đại Tông lên nối ngôi (762) lại mời Huệ Trung về Quang Trạch tự ở suốt mười sáu năm, tùy cơ thuyết Pháp, cho đến năm Đại Lịch thừ mười (776) th́ mất.

Sơn Nam Phủ Thanh Thố Sơn Ḥa Thượng hồi xưa vốn là bạn đồng  hành của Quốc Sư. Huệ Trung Quốc Sư thường tâu với vua vời Thanh Thố vào triều. Vua xuống chiếu mời ba lần Thanh Thố đều không vào. Thường mắng Huệ Trung làm Quốc Sư dưới hai triều vua. Hai cha con vua cùng tham Thiền với nhau. Theo Cảnh Đức Truyền Đăng Lục th́ câu hỏi trên là do Đại Tông hỏi. Câu hỏi “ Thập thân điều ngự là ǵ?” Mới là câu hỏi của Túc Tông hỏi Huệ Trung.

Lúc  Huệ Trung sắp nhập niết bàn mới từ biệt Đại Tông. Đại Tông hỏi, “ Một trăm năm sau. Quốc Sư cần ǵ?” Cũng chỉ là một câu hỏi thông thường mà thôi. Lăo hán này lại gió lặng gây sóng nói, “ Xin xây một ngôi tháp không đường vá cho lăo tăng.” Thử nói xem, giữa thanh thiên bạch nhật làm như vậy để làm ǵ? Xây một ngôi tháp là đủ rồi, cớ sao lại phải nói là một ngôi tháp không đường vá? Đại Tông quả nhiên cũng là một tay thành thạo cho nên mới hỏi dồn, “ Xin thầy cho biết tháp giống như thế nào?” Huệ Trung im lặng hồi lâu mới nói, “ Bệ hạ không hiểu?” Điều kỳ quái là điều này rất khó mà hiểu thấu. Đại Quốc Sư mà bị nhà vua dồn như thế này cũng chỉ biết méo mặt. Tuy là như thế song ngoài lăo hán này ra bất cứ ai khác hẳn cũng đă xính vính rồi.

Rất nhiều người nói rằng chỗ im lặng của Huệ Trung  chính là h́nh dáng của tháp. Hiểu như vậy, th́ cả tông phái của Đạt Ma kể như tiêu  tan hết. Nếu nói rằng im lặng là then chốt của vấn đề th́ hẳn là những kẻ câm cũng hiểu Thiền. Há không nghe có ngoại đạo hỏi Phật, “ Không hỏi về hữu ngôn không hỏi về vô ngôn.” Đức Thế Tôn im lặng, ngoại đạo cúi lạy tán thán, “ Thế Tôn đại từ đại bi làm tan hết mây mờ khiến tôi thấy được đường vào đạo.” Sau  khi ngoại đạo đi rồi, A Nan hỏi Phật, “ Kẻ ngoại đạo kia chứng được ǵ mà bảo rằng thấy được chổ vào?” Đức Thế Tôn nói, “ Giống như ngựa tốt trên thế gian chỉ cần thấy bóng roi là chạy rồi.” Người ta thường t́m hiểu cái im lặng này, song đâu có ǵ để bám víu.

Ngũ Tổ nêu lên rằng, “ Trước mặt là trân châu mă nảo, sau lưng là mă năo trân châu. Phía đông là Quan Âm Thế Chí, phía tây là Văn Thù Phổ Hiền. Ở giữa là một lá phướn bị gió thổi kêu phành phạch.”

Huệ Trung hỏi, “ Bệ hạ hiểu không?” Túc Tông nói, “ Không hiểu,” song vẫn c̣n được một chút. Thử nói xem cái “ không hiểu” này với cái “ không biết” của (Lương) Vũ Đế ( tắc thứ nhất) là một hay khác? Giống th́ có giống song chưa phải là một. Huệ Trung nói, “ Tôi có người đệ tử truyền Pháp là Trầm Nguyên rất hiểu việc này, xin bệ hạ vời người ấy vào mà hỏi.” Tuyết Đậu nêu lên rằng, “ Tiếng một bàn tay không kêu lớn.” Chuyện Đại Tông không hiểu, tạm gác qua một bên, Trầm Nguyên có hiểu chăng? Chỉ cần nói,” Xin thầy cho biết tháp ấy giống như thế nào?” Cả trời  đất này chẳng ai làm ǵ được cả. Ngũ Tổ b́nh rằng, “ Thầy là bậc thầy của cả nước, cớ làm sao không nói mà lại đùn cho đệ tử?”

Sau khi Huệ Trung mất, Túc Tông vời Trầm Nguyên vào hỏi ư nghĩa của việc rắc rối mà Huệ Trung đă đề ra. Trầm Nguyên đương nhiên là hiểu lời Huệ Trung đă nói, cho nên chỉ cần một bài tụng, “ Phía nam Tương phía bắc Đàm, ở giữa có vàng cho cả nước. Dưới cây không bóng từng đoàn thuyền, trong đến lưu ly không tri thức.”

Trầm Nguyên tên là Ưng Chân, là thị già của Huệ Trung Quốc Sư. Sau mới về ở Trầm Nguyên tự ở Cát Châu. Lúc ấy Ngưỡng Sơn đến tham kiến Trầm Nguyên. Trầm Nguyên nói nặng, tính dữ không thể đụng chạm được. Không  ở đó được, Ngưỡng Sơn bèn đến tham vấn Tính Không Thiền Sư. Có ông tăng hỏi Tính Không, “ Thế nào là ư của Tổ Sư từ Tây Thiên qua?” Tính Không nói, “ Giống như một người ở dưới giếng sâu ngàn thước, nếu như ông có thể cứu người ấy lên mà không cần dùng đến một tấc giây, lúc ấy ta sẽ nói cho ông biết thế nào là ư của Tổ Sư từ Tây Thiên qua.” Ông tăng nói, “ Gần đây Sương ḥa thượng ở Hồ Nam cũng nói đông nói tây như thế với thiên hạ.” Tính Không bèn gọi Ngưỡng Sơn, “ Sa si, lôi cái tử thi này ra khỏi đây ngay!”

Sau đó Ngưỡng Sơn thuật lại chuyện kia và hỏi Trầm Nguyên, “ Làm thế nào để cứu người dưới giếng lên được?” Trầm Nguyên quát, “Đồ ngốc, làm ǵ có ai dưới giếng!” Ngưỡng Sơn vẫn không hiểu ư chỉ. Sau này Ngưỡng Sơn hỏi Qui Sơn. Qui Sơn bèn gọi, “ Huệ Tịch!” Ngưỡng Sơn nói, “Dạ” Qui Sơn nói, “ Gă ra mất rồi!” Ngưỡng Sơn do đó đâi ngộ, nói rằng, “ Tôi ở nơi Trầm Nguyên đạt được thể, ở nơi Qui Sơn đạt được dụng.”

Chỉ một bài tụng của Trầm Nguyên cũng đă khiến rất nhiều người hiểu lầm. Người ta thường hiểu lầm nói rằng, “ Tương là tương kiến, đàm là đàm luận. Ở giữa có một ngôi tháp không đường vá cho nên bài tụng mới nói,” Ở giữa có vàng cho cả nước.” Đối đáp giữa Túc Tông và Huệ Trung  chính là “dưới cây không bóng từng đoàn thuyền”. Túc Tông không hiểu cho nên bài tụng mới nói. “ Trong đến lưu ly không tri thức.” Lại có người nói, “Tương là phía nam của Trương Châu, Đàm là phía bắc của Đàm Châu. “Ở giữa có vàng cho cả nước.” Chỉ c̣n biết chớp mắt nh́n quanh nói, “Đây chính là ngôi tháp không đường vá.” Nếu hiểu như thế là vẫn chưa vượt ra ngoài được kiến chấp.

C̣n như bốn lời then chốt của Tuyết Đậu th́ phải hiểu như thế nào? Người bây giờ chẳng hiểu được ư cổ nhân. Thử nói xem, “ Phía nam Tương, phía bắc Đàm,” ông hiểu như thế nào? “ Dưới cây không bóng từng đoàn thuyền”phải hiểu như thế nào? Nếu như hiểu được th́ quả thật cả đời khoan khoái. “ Phía nam Tương, phía bắc Đàm.” Tuyết Đậu nói, “ Tiếng một bàn tay không kêu lớn.” Bất đắc dĩ nói cho các ông, “Ở giữa có vàng cho cả nước,” Tuyết Đậu nói, “ Cây trượng cổ quái.” Cổ nhân nói, “ Nếu biết được cây trượng việc tham học cả đời kể như xong xuôi.” Dưới cây không bóng từng đoàn thuyền.” Tuyết Đậu nói, “ Biển yên sông trong.” Một lúc mở toang  cửa ngơ, tám phía lung linh. “ Trong đến lưu ly không tri thức”. Tuyết Đậu nói, “ Nêu lên rồi,”

Một lúc nói rơ tất cả cho các ông. Quả là khó thấy. Song thấy được th́ cũng hay, có điều vẫn c̣n có vài chỗ hiểu lầm, v́ hiểu theo ngôn ngữ. Măi cuối cùng Tuyết Đậu nói, “ Nêu lên rồi,” mới c̣n có ǵ đó. Tuyết Đậu rơ ràng một lúc tụng rơ cả, rốt cuộc chỉ là tụng ngôi tháp không đường vá kia mà thôi.

TỤNG: 

Tháp không vá,

C̣n khó thấy.

Hồ trong không để rồng cuộn khúc,

Hàng lớp lớp,

Bóng chập chùng,

Thiên cổ vạn cổ cho người xem.

B̀NH: Tuyết Đậu mở đầu nói, “ Tháp không vá, c̣n khó thấy.” Tuy đứng một ḿnh không có ǵ che dấu, song muốn thấy nó lại vẫn khó như thường. Tuyết Đậu từ bi cùng tột, cho nên lại nói với các ông rằng, “ Hồ trong không để rồng cuộn khúc.” Ngũ Tổ nói, “Cả một tập tụng cổ của Tuyết Đậu, ta chỉ thích mỗi câu “ hồ trong không để rồng cuộn khúc”. Song vẫn c̣n có một cái ǵ đó. Có nhiều người lăng nhăng măi với cái chỗ im lặng của Huệ Trung Quốc Sư, nếu như các ông hiểu như thế, là các ông sai ngay lập tức. Há không nghe nói, “ Ngọa long không thấy trong nước đọng, chỗ không có nó th́ ánh trăng và nước lăn tăn, chỗ có nó th́ không có gió sóng vẫn nỗi.” Lại có câu nói, “ Ngọa long thường sợ hồ xanh biếc.” C̣n như lăo hán này, dù cho sóng lớn gập ghềnh, cuốn cao tận trời, cũng chẳng hề cuộn khúc ở đó.

Đến đó là bài tụng của Tuyết Đậu chấm dứt. Sau đó để mắt thêm đôi chút mà xây ngôi tháp không đường vá. Rồi lại nói tiếp, “ Hàng lớp lớp, bóng châp chùng. Thiên cổ vạn cổ cho người xem.” Các ông xem như thế nào? Hiện giờ nó ở đâu rồi? Dù cho các ông có thấy nó rơ ràng đi nữa cũng đừng nhận lầm là điểm giữa cán cân.
 
 

TẮC THỨ MƯỜI CHÍN

NGÓN TAY THIỀN CỦA CÂU CHI

THÙY: Một hạt bụi bay gom cả trời đất, một đóa hoa nở cả thế giới mở. Có điều trước khi hạt bụi bay lên và đóa hoa nở ra th́ người ta phải nh́n như thế nào? Cho nên mới có câu nói, “ Như cắt một cuộn chỉ, một sợi bị cắt là cả cuộn bị cắt. Như nhuộm một cuộn chỉ, một sợi bị nhuộm là cả cuộn bị nhuộm.”

Hiện giờ phải cắt đứt hết các dây dưa. Sử dụng hết gia tài trong nhà ra mà ứng với hoàn cảnh, cao thấp trước sau không hề sai biệt. Lúc ấy mọi cái sẽ hiện thành, thảng hoặc chưa được như thế, xin xem văn dưới đây.

CỬ: Câu Chi ḥa thượng mỗi khi có ai hỏi ǵ chỉ dơ một ngón tay lên.

B̀NH: Nếu như dựa vào ngón tay mà hiểu là phụ ḷng Câu Chi; c̣n nếu không dựa vào ngón tay mà hiểu th́ cũng tựa như đục sắt vậy. Hiểu cũng thế mà không hiểu cũng thế, cao cũng thế mà thấp cũng thế, đúng cũng thế mà sai cũng thế. Cho nên mới có câu nói, “ Một hạt bụi bay gom cả trời đất, một đóa hoa nở cả thế giới khởi, một con sư tử trên đầu một sợi lông hiện ra trên hàng tỉ sợi lông.”[28]

Viên Minh nói, “Lạnh th́ cả trời đất lạnh, nóng th́ cả trời đất nóng.” Sơn hà đại địa xuống tận suối vàng, sâm la vạn tượng lên tận trời cao. Thử nói xem, đây là cái ǵ và có ǵ là kỳ quái? Nếu như hiểu được th́ chẳng có ǵ đáng ra sức, nếu như không hiểu được th́ sẽ bị tắc nghẽn cả.

Câu Chi ḥa thượng là người Kim Hoa Sơn thuộc Vụ Châu. Thuở xưa lúc Sư c̣n ở trong thảo am có một bà ni tên là Thực Tế đến nơi am của Sư. Vào thẳng bên trong, khnôg buồn cởi nón ra mà chỉ cầm tích trượng đi quanh giường Thiền ba ṿng nói, “Nếu thầy nói được th́ tôi cởi nón.” Hỏi như thế ba lần, Câu Chi không trả lời được. Bà ni bèn bỏ đi. Câu Chi nói, “ Trời cũng đă tối rồi, cô nghỉ lại một đêm cũng được.” Bà ni lại nói, “ Nếu thầy nói được th́ tôi sẽ nghĩ lại.” Câu Chi thở dài nói, “ Ta tuy ở trong thân thể của bậc trượng phu, mà thiếu mất cái khí khái của bậc trượng phu.” Rồi phát phẫn nhất định phải t́m hiểu vấn đề này.

Sau đó Sư bèn nghĩ đến việc bỏ am mà đi các nơi để tham vấn các thiện tri thức, cho nên chuẩn bị sẵn sàng để hành cước. Đêm ấy sơn thần nói với Sư rằng, “ Thầy không cần phải rời nơi này, ngày mai sẽ có vị nhục thân Bồ tát đến đây thuyết pháp cho thầy, thầy không cần phải đi đâu cả.” Hôm sau quả nhiên Thiên Long ḥa thượng đến am của sư. Câu Chi bèn tiếp đón với đầy đủ nghi lễ và kể lại chuyện hôm trước. Thiên Long chỉ dơ một ngón tay lên cho Câu Chi. Câu Chi hốt nhiên đại ngộ. V́ lúc ấy Sư trịnh trọng và chuyên chú cho nên đáy thùng mới dễ rơi ra như thế. Sau này bất cứ có ai hỏi ǵ Câu Chi cũng chỉ dơ một ngón tay lên.

B̀NH: Nếu như dựa vào ngón tay mà hiểu là phụ ḷng Câu Chi; c̣n nếu không dựa vào ngón tay mà hiểu th́ cũng tựa như đục sắt vậy. Hiểu cũng thế mà không hiểu cũng thế, cao cũng thế mà sai cũng thế. Cho nên mới có câu nói, “ Một hạt bụi bay gom cả trời đất, một đóa hoa nở cả thế giới khởi, một con sư tử trên đầu một sợi lông hiện ra trên hàng tỉ sợi lông.”[29]

Viên Minh nói, “ Lạnh th́ cả trời đất lạnh, nóng th́ cả trời đất nóng.” Sơn hà đại địa xuống tận suối vàng, sâm la vạn tượng lên tận trời cao. thử nói xem, đây là cái ǵ và có ǵ là kỳ quái? Nếu như hiểu được th́ chẳng có ǵ đáng ra sức, nếu như không hiểu được th́ sẽ bị tắc nghẽn cả.

Câu Chi ḥa thượng là người Kim Hoa Sơn thuộc Vụ Châu. Thuở xưa lúc Sư c̣n  ở trong thảo am có một bà ni tên là Thực Tế đến nơi am của Sư. Vào thẳng bên trong , không buồn cởi nón ra mà chỉ cầm tích trượng đi quanh giường Thiền ba ṿng nói, “ Nếu thầy nói được th́ tôi cởi nón.” Hỏi như thế ba lần, Câu Chi không trả lời được. Bà ni bèn bỏ đi.Câu Chi nói, “ Trời cũng đă tối rồi, cô nghỉ lại một đêm cũng được.” Bà ni lại nói, “ Nếu thầy nói được th́ tôi sẽ nghĩ lại.” Câu Chi lại cũng không nói  ǵ được. Bà ni bỏ đi. Câu Chi thở dài nói, “ Ta tuy ở trong thân thể của bậc trượng phu, mà thiếu mất cái khí khái của bậc trượng phu.” Rồi phát phẫn nhất định phải t́m hiểu vấn đền này.

Sau đó Sư bèn nghĩ đến việc bỏ am mà đi các nơi đế tham vấn các thiện tri thức, cho nên chuẩn bị sẵn sàng để hành cước. Đêm ấy sơn thần nói với Sư rằng, “ Thầy không cần phải rời nơi này, ngày mai sẽ có vị phục thân Bồ Tát đến đây thuyết pháp cho thầy, thầy không cần phải đi đâu cả.” Hôm sau quả nhiên Thiên Long ḥa thượng đến am của Sư. Câu Chi bèn tiếp đón với đầy đủ nghi lễ và kể lại chuyện hôm trước. Thiên Long chỉ dơ một ngón tay lên cho Câu Chi. Câu Chi hốt nhiên đại ngộ. V́ lúc ấy Sư trịnh trọng và chuyên chú cho nên đáy thùng mới dễ rơi ra như thế. Sau này bất cứ có ai hỏi Câu Chi cũng chỉ dơ một ngón tay lên.

Trường Khánh nói, “Đồ ăn ngon không để nuôi người no.” Huyền Giác nói, “ Huyền Sa nói như thế có nghĩa là ǵ?” Vân Cư Tích nói, “ Huyền sa nói như thế là chấp nhận hay không chấp nhận Câu Chi? Nếu chấp nhận tại sao lại nói là sẽ bẻ găy ngón tay? Nếu không chấp nhận, th́ Câu Chi lầm ở chỗ nào?” Tào sơn Bổn Tịch nói, “ Chỗ tiếp thu của Câu Chi có hơi sơ sài. Chỉ hiểu được một phương tiện một viễn cảnh mà thôi. Thầy ta chỉ biết vỗ tay xoa tay, ta thấy Tây Viên mới là đặc biệt.”[30] Huyền Giác lại nói, “ Thử nói xem, Câu Chi có ngộ hay không? Tại sao lại nói là chỗ tiếp thu của thầy ta có hơi sơ sài?” Nếu như chưa ngộ th́ tại sao thầy ta lại nói, “ Ta b́nh sinh chỉ dùng một ngón tay Thiền măi không hết.” Thử nói xem, ư của Tào Sơn là ǵ?

Lúc ấy đương nhiên Câu Chi không hiểu, đến lúc sau khi thầy ta ngộ rồi, bất cứ có ai hỏi ǵ Câu Chi cũng ch́a đưa một ngón tay lên. Tại sao mà ngàn người vạn người không bẫy thầy ta hay không đập tan được (phương tiện) của thầy ta? Nếu như các ông hiểu theo ngón tay, nhất định là các ông không hiểu được ư của cổ nhân. Loại Thiền này dễ tham song khó hiểu. Người thời buổi này vừa bị hỏi đă dơ ngón tay dơ nắm tay, ấy chỉ là dở tṛ ma quỉ mà thôi. Cần phải thấu xương thấu tủy nh́n tận vào (vấn đề) th́ mới hiểu được.

Trong am của Câu Chi có một đồng tử. Lúc ra ngoài có người hỏi, “ B́nh thường ḥa thượng của chú dùng phương pháp ǵ để dạy thiên hạ?” Đồng tử do ngón tay lên. Lúc về thuật lại cho Câu Chi, Câu Chi lấy dao cắt ngón tay đồng tử. Đồng tử vừa kêu ầm ĩ vừa chạy, Câu Chi gọi đồng tử. Đồng tử quay lại, Câu Chi bèn dơ ngón tay lên. đồng tử thoát nhiên hiểu thấu. Thử nói xem, đồng tử thấy được đạo lư ǵ vậy? Lúc sắp mất, Câu Chi dạy chúng rằng, “ Ta đắc được nơi Thiên long một ngón tay Thiền cả đời dùng không hết. Các ông có muốn hiểu chăng? Rồi dơ ngón tay lên mà mất.

Sau này độc Nhăn Long Minh chiếu hỏi sư thúc là Quốc Thái Thâm rằng, “ Cổ nhân nói Câu Chi chỉ đọc ba ḍng chữ mà được tiếng vượt hơn mọi người. Làm thế nào có thể nêu ba ḍng chữ kia lên cho thiên hạ được?” Thâm cũng dơ một ngón tay lên. Minh Chiếu nói, “ Nếu không nhân ngày hôm nay , làm sao tôi quen được người khách Qua Châu?” Thử nói xem, ư thầy ta muốn nói ǵ?

Bí Ma b́nh sinh chỉ dùng một cái chỉa ba. Đả Địa ḥa thượng b́nh sinh bất cứ có ai hỏi ǵ cũng chỉ đầp xuống đất một cái. Sau này có người giấu mất cái gậy của thầy ta đi rồi hỏi, “ Phật là ǵ?” Đả Địa chỉ há to miệng ra . Đây cũng là những phương pháp mà cả đời dùng không hết.

Vô Nghiệp nói, “ Tổ Đạt Ma quán thấy đất này (Trung Hoa) có căn khí đại thừa, nên truyền tâm ấn để chỉ dạy những kẻ lạc nẻo mê. Những người đắc được (tâm ấn) chẳng c̣n phải so đo giữa ngu với trí, phàm với thánh. Nhiều giả không bằng một chút thật. Kẻ đại trượng phu hẳn sẽ lập tức ngơi nghỉ ngay, dứt bặt vạn duyên, vượt qua ḍng sinh tử, thoát ra ngoài các khuôn khổ b́nh  thường. Dù có quyến thuộc trang nghiêm đi nữa, không cần cầy mà tự nhiên đắc. “ Vô nghiệp b́nh sinh bất cứ có ai hỏi ǵ cũng chỉ nói, “Đừng vọng tưởng.” Cho nên mới có câu nói, “ Thầu được một đối tượng th́ ngàn vạn đối tượng trong một lúc thấu được cà. Hiểu được một phương tiện, th́ đột nhiên hiểu được ngàn vạn phương tiện.”

Người bây giờ th́ không như thế, chỉ ch́m đắm trong ư niệm và kiến chấp, không hiểu được chỗ giác ngộ của cổ nhân. Câu Chi há không có phương pháp nào để thay  đổi sao? Tại sao lại chỉ dùng một ngón tay? Cần phải biết rằng chính ở chỗ này mà Câu Chi v́ người khác một cách sâu xa mật thiết làm sao!

Các ông có muốn biết phương pháp giữ ǵn sức lực không? Trở lại với câu nói  của Viên Minh, “ Lạnh th́ cả trời đất lạnh, nóng th́ cả trời đất nóng.” Sơn hà đại địa vượt lên lừng lững, sâm la vạn tượng trườn xuống gập ghềnh. Biết t́m một ngón tay Thiền ở đâu đây?

TỤNG: 

Thâm ái Câu Chi khéo dạy người

Vũ trụ vốn không nào có ai?

Từng thả nhánh bè trong biển lớn,

Sóng đêm đẩy tới con rùa mù.

B̀NH: Tuyết Đậu rất là thông thạo văn chương. Thầy rất thích tụng các công án bí hiểm.” Thâm ái Câu Chi khéo dạy người,vũ trụ vốn không nào có ai?” Học giả ngày nay khen chê cổ nhân, hoặc chủ hoặc khách, một vấn một đáp, Tuyết Đậu nêu lên ngay cả, đó chính là cách giúp người khác của thầy ta. Cho nên mới nói, “ Thâm ái Câu Chi khéo dạy người.” Thử nói xem, tại sao Tuyết Đậu lại thương mến Câu Chi? kể từ tạo thiên lập địa đến nay từng có ai? Chỉ có một ḿnh lăo Câu Chi mà thôi. Nếu như là người khác thế nào cũng ôm đồm, chỉ có ḿnh Câu Chi là có thể dùng một ngón tay Thiền cho đến khi già chết.

Người ta thường giải thích lầm lạc rằng, “ Sơn hà đại địa cũng không, nhân cũng không, pháp cũng không. Dù cho vũ trụ đột nhiên biến thánh không th́ cũng chỉ c̣n một ḿnh lăo Câu Chi này mà thôi.” Song chẳng có  ǵ nhằm nḥ đến công án này cả.

“Từng thả nhánh bè trong biển lớn.” Ngày nay người ta gọi đó là biển sinh tử. Chúng sinh ngụp lặn trong biển nghiệp, không hiểu rơ chính ḿnh, chẳng bao giờ thoát khỏi được. câu Chi dùng từ bi mà tiếp vật, ở trong biển sinh tử dùng một ngón tay Thiền mà cứu thiên hạ, giống như thể ném nhánh cây nổi xuống  để cứu con rùa mù, khiến chúng sinh qua được bờ bến kia.

“Sóng đêm đẩy tới con rùa mù.” Kinh Pháp Hoa nói, “ Như con rùa chột  bám vào nhánh cây nổi mà thoát khỏi chết ch́m.” Khi bậc thiện tri thức tiếp được một kẻ như rồng như cọp, khiến gă hướng về thế giới có Phật để cùng làm chủ khách, về thế giới không có Phật để cắt đoạn đường nối. Tiếp được con rùa mù th́ làm được ǵ?
 
 

TẮC THỨ HAI MƯƠI

LONG NHA VÀ Ư CỦA TỔ SƯ TỪ TÂY THIÊN QUA

THÙY:Chồng chất đồi núi,va tường phá vách, trữ ư dụng cơ, luôn luôn ấm ức. Hoặc có một người bước ra lật đổ biển lớn, đá ngă Tu Di, hét tan mây trắng, đánh vỡ hư không.Lập tức với một cơ một cảnh làm líu lưỡi tất cả người trong thiên hạ, khiến các ông không c̣n chỗ mà mon men đến gần. Thử nói xem, xưa nay đă từng có ai như thế? Xin thử nêu lên xem.

CỬ: Long Nha hỏi Thúy Vi, “ Thế nào là ư của Tổ Sư từ Tây Thiên qua?” Thúy vi nói, “Đưa dùm Thiền bản cho tôi coi.” Long Nha Thiền bản cho Thúy Vi, Thúy Vi tiếp lấy rồi đánh Long Nha.Long Nha nói, “Đánh th́ cứ việc đánh, song cũng chẳng có ǵ nhằm nḥ đến ư của Tổ Sư từ Tây Thiên qua cả!”

Long Nha lại hỏi Lâm Tế, “ Thế nào là ư của Tổ Sư từ Tây Thiên qua?” Lâm Tế nói, “Đưa dùm bồ đoàn cho tôi coi.” Long Nha cầm bồ đoàn đưa cho Lâm Tế, Lâm Tế tiếp lấy rồi đánh Long Nha. Long Nha nói, “Đánh th́ cứ việc đánh , song chẳng có  ǵ nhằm nḥ đến ư của Tổ Sư từ Tây Thiên qua cả!”

B̀NH: Thúy Nham Chi ḥa thượng nói, “Lúc ấy th́ như thế , ngày nay dưới da của các nạp tăng c̣n có máu không?” Qui Sơn Triệt nói, “ Thúy vi và Lâm Tế đúng là những bậc thầy trong tông môn của chúng ta.” Long Nha vạch cỏ ngóng gió, quả là xứng đáng để làm gương mẫu  cho người đời sau. Sau  khi thầy ta trụ viện rồi, có ôngtăng hỏi, “ Bạch ḥa thượng, lúc ấy ngài có đồng ư với hai vị tôn túc kia chăng?” Long Nha nói, “Đồng ư th́ đồng ư, song chẳng có ǵ nhằm nḥ đến ư của Tổ Sư từ Tây Thiên qua cả.” Long Nha nh́n trước nh́n sau, tùy bệnh cho thuốc.

Đại Qui th́ không như thế. Lúc người khác hỏi lúc ấy Long Nha có đồng ư với  hai vị tôn túc kai không, hoặc Long Nha có hiểu hay không là thầy ta đánh ngay. Như thế không những là phù hợp với (tôn chỉ của) Thúy Vi và Lâm Tế mà c̣n không phụ ḷng người hỏi nữa.

Thạch Môn thông nói, “ Long Nha mà không bị dồn th́ c̣n được, song nếu bị ông tăng nào đó hỏi dồn là mất ngay một con mắt.”

Tuyết Đậu nói, “Lâm Tế và Thúy Vi chỉ biết nắm chặt chứ không biết buông ra. Lúc ấy ta mà là Long Nha vừa bảo ta lấy Thiền bản và bồ đoàn là ta hẳn đă cầm lên rồi ném xuống ngay.”

Ngũ Tổ Giới nói, “ Tại sao ḥa thượng lại mặt dài như thế?” Lại nói, “ Sao Thổ tú của Tổ Sư ở ngay trên đầu.”

Hoàng Long Tân nói, “Long Nha dắt trâu của thợ cầy giựt đồ ăn của người đói. Một khi đă hiểu là hiểu , tại sao không có ǵ nhằm nḥ đến ư của Tổ Sư từ Tây Thiên qua? Các ông có hiểu không? Đầu gậy mắt sáng như mặt trời, muốn biết vàng thật thử trong lửa.”

Phàm việc khích dương yếu  chỉ, đề xướng tông thừa, nếu như có thể hiểu thấu được ngay khoảnh khắc đầu tiên, th́ các ông mới có thể làm líu lưỡi tất cả mọi người trong thiên hạ, thảng hoặc các ông trù trừ, lập tức sẽ bị rơi vào hàng phụ thứ. Hai lăo hán này ( Lâm Tế và Thuy Vi) tuy là đánh mưa đánh gió, kinh thiên động địa, song chưa từng bao giờ đánh một người mắt sáng cả.

Cổ nhân tham Thiền gian khổ không phải là ít, lập chí khí đại trượng phu, trèo non vượt suối để tham kiến các bậc tôn túc. Long Nha thoạt tiên tham kiến Thúy Vi Lâm Tế, sau đó lại đến gặp Đức Sơn, hỏi Đức Sơn rằng, “ Lúc có kẻ học thiền cầm gươm Mạc Da đến toan lấy đầu thầy th́ như thế nào?” Đức Sơn đưa cổ ra, hét lên. Long Nha nói, “Đầu thầy đă rụng rồi.” Đức Sơn mĩm cười rồi thôi.

Sau đó Long Nha lại đến gặp Động Sơn. Động Sơn hỏi “Ông mới từ đâu đến vậy? “ Long Nha nói, “ Từ Đức Sơn” Động Sơn nói. “Đức Sơn đă nói ǵ vậy?” Long Nha bèn thuật lại câu chuyện kia. Động Sơn nói, “ Thầy ta nói ǵ vậy?” Long Nha nói, “ Thầy ta chẳng nói ǵ cả.” Động Sơn nói, “Đừng có bảo là thầy ta không nói ǵ cả. Thử nhặt cái đầu rơi dưới đất của Đức Sơn tŕnh lên cho lăo tăng xem thử xem.” Nghe thế Long Nha tỉnh ngộ, bèn thắp hương  hướng về phía ( Tự viện của) Đức Sơn mà lạy sám hối. Khi nghe thầy thể Đức Sơn nói, “ Lăo Động Sơn này không biết phân biệt hay dở, cái gă kia đă chết từ lâu rồi cứu sống lại để làm ǵ cơ chứ? Cừ để gă cầm đầu của lăo tăng mà đi khắp thiên hạ.”

Long Nha bổn tính thông minh mẫn tiệp, đem đầy một bụng Thiền mà đi hành cước. Vừa đến Trường An gặp Thúy Vi đă hỏi, “ Thế nào là ư của Tổ Sư từ Tây Thiên qua?” Thúy Vi nói, “Đưa dùm tôi Thiền bản coi.”Long Nha đưa Thiền bản cho Thúy Vi. Thúy Vi tiếp lấy rồi đánh Long Nha. Long Nha nói, “Đánh th́ cứ việc đánh, song vẫn chẳng có ǵ nhằm nḥ với ư Tổ Sư từ Tây Thiên qua cả.” Lại hỏi Lâm Tế, “ Thế nào là ư của Tổ Sư từ Tây Thiên qua?” Lâm Tế nói, “Đưa dùm tôi bồ đoàn coi.” Long Nha đưa bồ đoàn cho Lâm Tế. Lâm Tế tiếp lấy rồi đánh Long Nha. Long Nha nói, “Đánh th́ cứ việc đánh, song vẫn chẳng có ǵ nhằm nḥ với ư của Tổ Sư từ Tây Thiên qua cả.”

Lúc Long Nha đặt câu hỏi quả thực không phải chỉ muốn thấy hai lăo hán trên ghế thầy kia, mà c̣n muốn giải minh cả cái đại sự của chính ḿnh nữa. Có thể nói là lời thốt ra không phí, sự thể tŕnh ra không bừa băi mà phát xuất từ nỗ lực của Long Nha.

Há không nghe chuyện Ngũ Duệ đến tham kiến Thạch Đầu, tự nhủ với ḿnh trước rằng: “ Nếu như nghe một lời mà khế hợp được th́ ở c̣n nếu không th́ lại đi.” Thạch Đầu vẫn ngồi thản nhiên. Ngũ Duệ rũ áo bỏ ra. Thạch Đầu biết Ngũ Duệ là bậc Pháp khí cho nên mới rũ ḷng khai mở cho, song Ngũ Duệ không hiểu được ư chỉ lại cáo từ mà đi. Vừa ra tới cửa, Thạch Đầu gọi, “Xà lê!”[31] Ngũ Duệ quay lại, Thạch Đầu nói, “ Từ sinh đến tử chỉ là cái này, chớ có quay đầu vặn óc mà t́m cái ǵ khác.” Nghe lời nói ấy Ngũ Duệ đại ngộ.

Ma Cốc cầm tích trượng đến gặp Chương Kính, đi quanh giường Thiền ba ṿng, rồi chống tích trượng đứng sừng sững đó. Chương Kính nói, “Đúng đúng.” Ma Cốc lại đến gặp Nam Tuyền, cũng đi quanh ba ṿng rồi chống tích trượng đứng sừng sững. Nam Tuyền nói, “ Sai sai. Đó là do sức gió quay cuồng cuối cùng thế nào cũng bại hoại.” Ma Cốc nói, “ Chưong Kính nói đúng, cớ sao ḥa thượng lại nói sai?” Nam Tuyền nói, “ Chương Kính th́ đúng, c̣n chú mới là sai.”

Cổ nhân quả thật phải nêu lên và nh́n thấu một sự kiện này. Người bây giờ mới bị hỏi đă chẳng vận dụng nỗ lực ǵ cả. Hôm nay như thế, ngày mai cũng chỉ như thế. Nếu như các ông cũng như thế th́ có đến tận thế cũng chẳng bao giờ dứt. Cần phải phấn chấn tinh thần th́ mới có phần nào phù hợp.

Thử nh́n xem Long Nha hỏi một câu, “ Thế nào là ư của Tổ Sư từ Tây Thiên qua?” Thúy vi nói, “Đưa dùm tôi Thiền bản coi.”Long Nha đưa Thiền bản cho Thúy Vi. Thúy Vi tiếp lấy rồi đánh Long Nha. Lúc ấy khi Long Nha cầm Thiền bản lên há lại không biết rằng Thúy Vi sẽ đánh ḿnh sao? Cũng không thể nói rằng thầy ta không hiểu, bởi v́ tại sao thầy ta lại đưa Thiền bản cho Thúy Vi? Thứ nói xem, nếu như lúc ấy Long Nha đảm đương nổi cơ duyên ấy th́ thầy ta hẳn đă làm ǵ rồi? Thầy ta không kiếm chỗ dụng trong nước sông[32] mà lại đi kiếm sống trong nước chết[33]? Luôn luôn đóng vai chủ chốt, Long Nha nói, “Đánh th́ cứ việc đánh , song cũng chẳng có ǵ nhằm nḥ đến ư của Tổ sư từ Tây Thiên qua cả.”

Long Nha cũng c̣n đến Hà Bắc để tham kiến Lâm Tế. lại cũng hỏi như trước. Lâm Tế nói, “Đưa dùm tôi bồ đoàn coi.” Long Nha đưa bồ đoàn cho Lâm Tế. Lâm Tế tiếp lấy rồi đánh Long Nha. Long Nha nói, “Đánh th́ cứ việc đánh, song cũng chẳng có ǵ nhằm nḥ đến ư của Tổ Sư từ Tây Thiên qua cả.” Thử nói xem, hai vị tôn túc này không phải là truyền thừa của cùng một ḍng, tại sao câu trả lời lại giống nhau? Chỗ dụng xứ cũng cùng một loại? Nên biết rằng  cổ nhân dù một lời một câu chẳng từng bao giờ nói bừa cả.

Sau này lúc Long Nha trụ viện có ông tăng hỏi, “ Bạch ḥa thượng, lúc ngài gặp hai vị tôn túc kia, ngài có đồng ư với họ chăng? Long Nha nói, “Đồng ư th́ đồng ư với họ chăng?” Long Nha nói, “Đồng ư th́ đồng ư, song cũng chẳng có ǵ nhằm nḥ đến ư của Tổ Sư từ Tây Thiên qua cả.” Trong bùn mủn có gai, buông tha cho người là cũng đủ rơi voà hành phụ thứ rồi. Lăo hán nay b́nh tĩnh thật, đúng là bậc tôn túc trong ḍng của động  sơn. Nếu muốn làm môn hạ của Đức Sơn Lâm Tế th́ phải biết rằng có một sinh nhai khác nữa. Nếu như là sư núi tôi th́ sẽ không thế, tôi hẳn chỉ nói với ông tăng kia, “Đồng ư th́ đồng ư, song cũng vẫn chẳng có ǵ nhằm nḥ đến ư của Tổ Sư từ Tây Thiên qua cả.”

Há không nghe chuyện có ông tăng hỏi Đại Mai, “ Thế nào là ư của Tổ Sư từ Tây Thiên qua?” Đại Mai nói, “ Từ tây Thiên qua chẳng với ư ǵ cả.” Diêm Quan nghe thấy câu chuyện này nói, “ Một cỗ quan tài hai người chết.” Huyền Sa nghe thấy thế nói, “ Diêm Quan đúng là tay thành thạo.” Tuyết Đậu nói, “ Có tới ba người chết vậy.” Ông tăng hỏi về ư của Tổ Sư từ Tây Thiên qua, Đại Mai lại nói là chẳng có ư ǵ cả. Nếu như các ông hiểu như thế sẽ bị rơi ngay vào chỗ vô sự. cho nên mới có câu nói, “ Nên tham câu sống[34] chứ đừng tham câu chết.”[35].Nếu như nơi câu sống mà hiểu được th́ trọn kiếp không quên , c̣n nếu dựa vào câu chết mà hiểu, th́ tự cứu ḿnh cũng chẳng xong.

Khi Long Nha nói như thế, quả thực là thầy ta đă nỗ lực hết sức. Cổ nhân nói, “ Tương tục là một điều rất khó.” Các bậc cố nhân khác cũng chẳng hề dùng bừa một lời hay một câu của ḿnh. Lúc nào cũng tiền hậu tương chiếu có quyền có thực, có chiếu có dụng, chủ khách rơ ràng, ngang dọc tương xứng.

Nếu như các ông muốn phân biện rơ ràng, Long Nha tuy không mờ tối về tông thừa của chúng ta, song tại sao lại bị rơi vào hàng phụ thứ? Lúc hai vị tôn túc kia đ̣i Thiền bản và bồ đoàn, Long Nha không thể nào không biết ư của họ, song chỉ v́ thầy ta muốn sử dụng cái ở trong đáy ḷng của ḿnh. Tuy là Long Nha đúng, song chỗ dụng của thầy ta không khỏi có hơi cao xa quá. Long Nha hỏi như thế, hai vị tôn túc kia trả lời như thế, tại sao lại không có ǵ nhằm nḥ đến ư của Tổ sư từ Tây Thiên qua? Đến chỗ này rồi, các ông nên biết rằng c̣n có một chỗ kỳ đặc nào khác. Tuyết Đậu nêu lên cho thiên hạ thấy.

TỤNG:

Trong núi Long Nha rồng không mắt,

Nước chết làm sao chấn cổ phong?

Thiền bản bồ đoàn không dùng được

Chỉ cần đem trao cho Lô công.[36]

B̀NH: Tuyết Đậu đoán định công án này theo các dữ kiện. Tuy thầy ta tụng như thế, song thử nói xem ư thầy ta ở chỗ nào? Không mắt ở chổ nào? Nước chết ở chỗ nào? Đến chỗ này cần phải có biến thông mới được. cho nên mới nói, “ Hồ trong không để rồng cuộn khúc. Nước đọng làm sao có mănh long?” Há không nghe nói” nước đọng không chứa rồng” sao? Nếu như là con rồng sống th́ cần phải đến chỗ sóng lớn bập bềnh ba đào cuộn trào. Đây có ư nói rằng Long Nha đi vào nước chết cho nên bị người khác đánh. Song thầy ta lại nói, “Đánh th́ cứ việc đánh, song cũng chẳng có ǵ nhằm nḥ đến ư của Tổ Sư từ Tây Thiên qua cả.” Khiến cho Tuyết Đậu nói, “ Nước chết làm sao chấn cổ phong?” Tuy nhiên như thế, song thử nói xem Tuyết Đậu ủng hộ Long Nha hay là hạ thấp quang huy của thầy ta?

Người ta thường hiểu lầm, nói rằng, “ Tại sao lại chỉ cần đem trao cho Lô công?” Đâu có biết rằng Long Nha quả thật đem chúng cho người khác. Phàm khi tham thỉnh( các bậc tôn túc) cần phải phân biện được ngay cơ duyên, th́ mới mong thấy được chỗ gặp gỡ của các cổ nhân. “ Thiền bản đồ đoàn không dùng được.” Thúy Vi nói, “Đưa dùm Thiền bản cho tôi coi.” Long Nha bèn đưa Thiền bản cho thầy ta, như thế há không phải là kiếm sống trong nước chết sao? Rơ ràng là Long Nha được trao cho một con ngựa quí, có điều thầy ta không biết cưỡi mà thôi. Đó là không biết dụng vậy.

“ Chỉ cần đem trao cho Lô công.” Người ta thường nói Lô công là Lục Tổ, nói thế là sai. Chưa từng bao giờ cho người khác,nếu như bảo là đem cho người khác để mà đánh người ta, th́ là cái ǵ vậy?[37] Tuyết Đậu đă từng tự xưng là Lô công trong bài “ Hối Tích Tự Di” rằng, “ Bức họa năm xưa yêu Động Đ́nh, trong sóng bảy mươi hai đỉnh cao. Giờ đây nằm khểnh nhớ chuyện cũ, vẽ thêm Lô công dựa vách đá.” Tuyết Đậu muốn vượt qua đầu Long Nha, song lại sợ thiên hạ hiểu lầm, cho nên lại tụng thêm để cắt đứt hết các chỗ nghi ngờ của thiên hạ. Tuyết Đậu lại nêu lên rằng:

TỤNG:Lăo hán này chưa chấm dứt được cho nên lại làm thêm một bài tụng nữa:

Cho Lô công rồi nương vào đâu?

Ngồi dựa thôi đừng tiếp Tổ đăng.

Đáng nói, mây chiếu về chưa đủ,

Núi xa vô hạn xanh biếc xanh.

B̀NH: “ Cho Lô công rồi nương vào đâu?” Cần phải nh́n thẳng vào đây mà hiểu, chứ đừng tựa cây đợi thỏ. Đập vỡ tất cả những ǵ trước đầu, đừng giữ lại chút ǵ trong ḷng cả. Buông thả và tự tại, cón cần ǵ để dựa vào nữa? Ngồi hay là dựa cũng chẳng đáng để xem là Phật Pháp. Cho nên Tuyết Đậu mới nói, “ Ngồi dựa thôi đừng tiếp Tổ Đăng.” Tuyết Đậu một lúc nêu trọn cả, thầy ta có chỗ xoay chuyển, cuối cùng lại để lộ chút ư chỉ. Tuyết Đậu nói, “Đáng nói, mây chiều về chưa đủ.” Thử nói xem, ư của Tuyết Đậu ở chổ nào? Lúc mây chiều về sắp họp lại song chưa họp lại với nhau th́ như thế nào? “ Núi xa vô hạn xanh biếc xanh.” Cũng y như trước xông tận vào hang ma. Đến chỗ này rồi cắt đứt tất cả được mất thị phi, đạt được tự do tự tại, th́ mới là đắc được chút ǵ. “ Núi xa vô hạn xanh biếc xanh.” Thử nói xem, đó là cảnh giới của Văn Thù, cảnh giới của Phổ Hiền, hay là cảnh giới của Quan Âm. Đến đây rồi thử nói xem đó là chuyện của ai? 

 

--------------------------------------------------------------------------------

[1] Thước của người xưa: “xích”.

[2] Câu này không có trong bản của Cổ Phương Thiền Sư.

[3] “Pháp khí” có nghĩa là dụng cụ để chứa đựng Pháp, ngụ ư chỉ những người có khả năng trao truyền Phật Pháp lại cho hậu thế.

[4] Xin xem thêm trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, cùng một dịch giả, sẽ xuất bản.

[5] Kim ô có nghĩa là mặt trời.

[6] Ngọc thỏ có nghĩa là mặt trăng.