In Memoriam of Master Thích Măn Giác

(1929-2007)

Home

BÍCH NHAM LỤC
(MỘT TRĂM CÔNG ÁN THIỀN TÔNG)
 Thích Măn Giác dịch
Chùa Việt Nam Trung Tâm Văn Hoá Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ 1988

MỤC LỤC

Vài nét về dịch giả
Lời Giới Thiệu
Phần 1
Tắc thứ Nhứt: Cái Trống Không Của Đạt Ma
Tắc thứ Nh́: Đạo Vô Nan Của Triệu Châu
Tắc thứ Ba:Mă Sư Bất An
Tắc thứ Tư: Đức Sơn Mang Bao Hành Trang
Tắc thứ Năm: Hạt Gạo Của Tuyết Phong
Tắc thứ Sáu: Một Ngày Đẹp Của Vân Môn
Tắc thứ Bảy: Huệ Siêu Hỏi Về Phật
Tắc thứ Tám: Thúy Nham Dạy Đồ Chúng Cuối Hạ
Tắc thứ Chín: Bốn Cửa Của Triệu Châu
Tắc thứ Mười: Ba Tiếng Hét Của Mục Châu
Phần 2
Tắc thứ Mười Một: Kẻ Uống Cặn Rượu Của Hoàng Bá
Tắc thứ Mười Hai: Ba Cân Gai Của Động Sơn
Tắc thứ Mười Ba:Chén Bạc Của Ba Lăng
Tắc thứ Mười Bốn: Một Lời Đúng Của Vân Môn 
Tắc thứ Mười Lăm:Một Câu Nói Ngược Của Vân Môn
Tắc thứ Mười Sáu: Người Trong Cỏ Của Kính Thanh
Tắc thứ Mười Bảy: Hương Lâm Ngồi Lâu
Tắc thứ Mười Tám: Túc Tông Thỉnh Pháp
Tắc thứ Mười Chín: Ngón Tay Thiên Của Câu Chi
Tắc thứ Hai Mươi: Long Nha và Ư Của Tổ Sư Từ Tây Thiên Qua
Phần 3
Tắc thứ Hai Mươi Mốt: Hoa Sen Của Trí Môn
Tắc thứ Hai Mươi Hai: Con Rắn Mũi Rùa Của Tuyết Phong
Tắc thứ Hai Mươi Ba: Diệu Phong Đỉnh Của Bảo Phúc
Tắc thứ Hai Mươi Bốn: Qui Sơn Và Lưu Thiết Ma
Tắc thứ Hai Mươi Lăm: Liên Hoa  Trụ Trượng
Tắc thứ Hai Mươi Sáu: Bác Trượng Ngồi Một Ḿnh Trên Đỉnh Đại Hùng
Tắc thứ Hai Mươi Bảy: Thể Lộ Kim Phong Của Vân Môn
Tắc thứ Hai Mươi Tám: Chư Thánh Của Niết Bàn Ḥa Thượng
Tắc thứ Hai Mươi Chín: Hỏa Kiếp Của Đại Tùy
Tắc thứ Ba Mươi: Củ Cải Của Triệu Châu
Phần 4
Tắc thứ Ba Mươi Mốt: Ma Cốc Chống Gậy
Tắc thứ Ba Mươi Hai: Phật Pháp Đại Ư Của Lâm Tế
Tắc thứ Ba Mươi Ba: Trần Thượng Thư Viếng Từ Phúc
Tắc thứ Ba Mươi Bốn: Ngưỡng Sơn Hỏi Từ Đâu Đến
Tắc thứ Ba Mươi Lăm: Văn Thù và Vô Trước
Tắc thứ Ba Mươi Sáu: Trường Sa Một Hôm Đi Chơi Núi
Tắc thứ Ba Mươi Bảy: Tam Giới Vô Pháp Của Bản Sơn
Tắc thứ Ba Mươi Tám: Trâu Sắt Của Phong Huyệt
Tắc thứ Ba Mươi Chín: Kim Mao Sư Tử Của Vân Môn
Tắc thứ Bốn Mươi: “Giống Như Mộng” Của Nam Tuyền
Phần 5
Tắc thứ Bốn Mươi Mốt: Người Chết Lớn Của Triệu Châu
Tắc thứ Bốn Mươi Hai:Từng Phiến Tuyết Của Bàng Cư Sĩ
Tắc thứ Bốn Mươi Ba: Không Nóng Không Lạnh Của Động Sơn
Tắc thứ Bốn Mươi Bốn: Ḥa Sơn Biết Đánh Trống
Tắc thứ Bốn Mươi Lăm: Vạn Pháp Qui Nhất Của Triệu Châu
Tắc thứ Bốn Mươi Sáu: Tiếng Mưa Rơi Của Kính Thanh
Tắc thứ Bốn Mươi Bảy: Sáu Không Thu Của Vân Môn
Tắc thứ Bốn Mươi Tám: Vương Thái Phó Nấu Trà 
Tắc thứ Bốn Mươi Chín: Tam Thánh Lấy Ǵ Để Ăn
Tắc thứ Năm Mươi: Trần Trần Tam Muội Của Vân Môn
Phần 6
Tắc thứ Năm Mươi Mốt: “Cái Ǵ Đây” Của Tuyết Phong
Tắc thứ Năm Mươi Hai: Cầu Đá Của Triệu Châu
Tắc thứ Năm Mươi Ba: Vịt Trời Của Mă Đại Sư
Tắc thứ Năm Mươi Bốn: “ Mới Ở Đâu Tới” Của Vân Môn
Tắc thứ Năm Mươi Lăm: Đạo Ngô Và Tiệm Nguyên Đi Điếu Tang
Tắc thứ Năm Mươi Sáu: Một Mũi Tên Phá Ba Ải Của Vân Môn
Tắc thứ Năm Mươi Bảy: Chí Đạo Vô Nam Của Triệu Châu
Tắc thứ Năm Mươi Tám: Triệu Châu Và Khuôn Sáo Thời Thượng
Tắc thứ Năm Mươi Chín: Triệu Châu Và Đừng So Đo
Tắc thứ Sáu Mươi: Cây Gậy Của Vân Môn
Phần 7
Tắc thứ Sáu Mươi Mốt: Một Hạt Bụi Của Phong Huyệt
Tắc thứ Sáu Mươi Hai: Viên Ngọc Của Vân Môn
Tắc thứ Sáu Mươi Ba: Nam Tuyền Giết Mèo
Tắc thứ Sáu Mươi Bốn: Nam Tuyền Hỏi Triệu Châu
Tắc thứ Sáu Mươi Lăm: Ngoại Đạo Hỏi Phật Về Hữu Vô
Tắc thứ Sáu Mươi Sáu: Nham Đầu Và “Từ Đâu Tới”
Tắc thứ Sáu Mươi Bảy: Lương Vũ Đế Mời Giảng Kinh
Tắc thứ Sáu Mươi Tám: Ngưỡng Sơn Hỏi Tam Thánh
Tắc thứ Sáu Mươi Chín: Nam Tuyền Bái Trung Quốc Sư
Tắc thứ Bảy Mươi :Qui Sơn Đứng Hầu Bách Trượng
Phần 8
Tắc thứ Bảy Mươi Mốt: Bách Trượng Và không Với Cổ Họng Với Miệng Môi
Tắc thứ Bảy Mươi Hai: Bách Trượng Hỏi Vân Nham
Tắc thứ Bảy Mươi Ba: Tứ Cú Bách Phi Của Mă Đại Sư
Tắc thứ Bảy Mươi Bốn: Kim Ngưu Ḥa Thượng Cười Ha Ha
Tắc thứ Bảy Mươi Lăm: Ô Cữu Hỏi Pháp Đạo
Tắc thứ Bảy Mươi Sáu: Đan Hà Hỏi Từ Đâu Tới
Tắc thứ Bảy Mươi Bảy: Bánh Của Vân Môn
Tắc thứ Bảy Mươi Tám:Mười Sáu Bồ Tát Đi Tắm
Tắc thứ Bảy Mươi Chín:Tất Cả Các Âm Thanh Của Đầu Tử
Tắc thứ Tám Mươi: Hài Từ Thức Của Triệu Châu
Phần 9
Tắc thứ Tám Mươi Mốt:Dược Sơn Bắn Nai
Tắc thứ Tám Mươi Hai: Kiên Cố Pháp Thân Của Đại Long
Tắc thứ Tám Mươi Ba: Cổ Phật Và Cột Trụ Của Vân Môn 
Tắc thứ Tám Mươi Bốn: Bất Nhị Pháp Môn Của Duy Ma cật
Tắc thứ Tám Mươi Lăm:Con Cọp Của Đồng Phong Am Chủ
Tắc thứ Tám Mươi Sáu: Quang Minh Của Vân Môn
Tắc thứ Tám Mươi Bảy: Bệnh Và Thuốc Trị Lẫn Nhau Của Vân Môn
Tắc thứ Tám Mươi Tám: Huyền Sa Tiếp Vật Lợi Sinh
Tắc thứ Tám Mươi Chín: Tay Và Mắt Của Đại Bi Bồ Tát
Tắc thứ Chín Mươi: Bát Nhă Thể Của Trí Môn
Phần 10
Tắc thứ Chín Mươi Mốt: Tê Giác Của Diêm Quan
Tắc thứ Chín Mươi Hai: Thế Tôn Một Hôm Thăng Ṭa
Tắc thứ Chín Mươi Ba: Đại Quang Sư Nhảy Múa
Tắc thứ Chín Mươi Bốn: Thấy Cái Không Thấy Trong Kinh Lăng Nghiêm
Tắc thứ Chín Mươi Lăm: Tam Độc Của Trường Khánh
Tắc thứ Chín Mươi Sáu: Ba Chuyển Ngữ Của Triệu Châu
Tắc thứ Chín Mươi Bảy: Kim Cương Kinh Khinh Tiện
Tắc thứ Chín Mươi Tám: Hai Cái Sai Của Thiên B́nh Ḥa Thượng
Tắc thứ Chín Mươi Chín: Thập Thân Điều Ngự Của Túc Tông
Tắc thứ Một Trăm: Kiếm Sắc Của Ba Lăng 


VÀI NÉT VỀ DỊCH GIẢ 

H.T.Thích Măn Giác, sanh năm Kỷ Tỵ tại Cố Đố Huế. Nguyên quán Làng Phương Lang, Quận Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Xuất gia nhập đạo năm 11 tuổi. Thọ Đại Giới năm 1948 cùng một lần với Ḥa Thượng Thiện Siêu, cố Ḥa Thượng Thiện Minh, cố Ḥa Thượng Thiên Ân…

Về Giáo Dục:

-Tốt nghiệp Đại Học Phật Giáo tại Phật Học Đường Báo Quốc Huế 1952.
-Du học Tokyo Nhựt Bổn 1960.
-Đỗ văn bằng Cao Học Văn HỌc toyo University, Tokyo,1962.
-Tùng học ban Cao Học Triết Học Ấn Độ (Faculty of Letters, University of Tokyo) 1964-1965.
-Tốt nghiệp Văn Học Bác Sĩ tại Toyo University 1968.
-Đỗ Tiến Sĩ Triết Học, University of Oriental Studies 1979.
Về Giáo Hội, Giáo Dục và Xă Hội: 
-Giảng Sư Hội Phật Học Lâm Đồng (Dalat) 1953.
-Hội Trưởng Hội Phật Học Lâm Viên Dalat 55-60.
-Bộ Giáo Dục tuyển dụng làm Giáo Sư Đại Học Văn Khoa Saigon và Huế cuối năm 1965.
-Hội Trưởng Hội Bảo Tồn Cố Đố Huế 1973-1975.
-Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Thanh Niên 1966-1969.
-Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Văn Hóa 1969-1975.
-Khoa Trưởng Phân Khoa Phật Học và Triết Học Đông Phương, Viện Đại Học Vạn hạnh 1965-1969.
-Phó Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh Đặc Trách Điều Hành 1971-1975.
-Giáo Sư Đại Học Văn Khoa Saigon và Huế 1965-1975.

Sinh Hoạt Hiện Tại: 

-Đồng Tổng Thư Kư Hội Đồng Giáo Phẩm Lănh Đạo GHPGVNTN tại Hải Ngoại
-Hội Viên Hội Đồng Quản Trị tái Thiết Vườn Lâm T́ Ni tại Hoa Kỳ
-Hội Viên Hội Đồng Tái Thiết Vườn Lâm T́ Ni của Hội Phật Giáo Thế Giới.
-Chứng Minh Đạo Sư của Buddhist Sangha Council of Southern California
-Viện Chủ Giáo Hội PGVNTN tại Los Angeles
-Hội Chủ Tổng Hội PGVN tại Hoa Kỳ

LỜI GIỚI THIỆU 

Thiền tông thường được biết đến như một tông phái “ giáo ngoại biệt truyền,bất lập văn tự, trực chỉ chơn tâm, kiến tánh thành Phật.” Nhiều người  thường hiểu lầm tôn chỉ này và xem Thiền như một tông phái có tánh cách phá chấp vượt thoát ngoài những khuôn khổ giáo thuyết cũng như đường lối tu tập và nghi thức nền tảng chung của truyền thống Đại Thừa. Sự thực th́, như một Thiền Sư đă nói, Phật Pháp tuy có thể mang nhiều h́nh thức dị biệt, để đáp ứng với những khung cảnh văn hóa và căn cơ khác nhau của con người, nhưng dù bất cứ dưới h́nh thức nào, Phật giáo cũng có một vị duy nhứt, đó là vị của giác ngộ. Hơn nữa, tuy là nói “ bất lập văn tự” trên thực tế văn học Thiền lại dồi dào như bất cứ văn học của một tông phái nào khác trong Phật Giáo Đại Thừa. Thiền Tông nhấn mạnh vào mặt kinh nghiệm cá nhân, nhắm đưa từng con  người chúng ta giáp mặt trực tiếp với chân lư trong ngay chính hoàn cảnh hiện tiền của chúng ta. Nói cách khác, mục đích của Thiền là muốn cho mọi người chúng ta phải tự thể nghiệm những chân lư trong kinh điển và chuyển hóa chúng trong ngay đời sống thường nhựt của mỗi chúng ta bằng chính mỗi con người chúng ta. Chính v́ thế mà Thiền nói rằng “ b́nh thường tâm tức là đạo”, mà Lục Tổ Huệ Năng nói rằng con người phải chuyển Kinh chứ không phải Kinh chuyển con người. Cũng chính v́ thế mà tuy rằng văn học Thiền phong phú cả về nội dung lẫn h́nh thức, song h́nh thức thông dụng nhứt lại là những ghi chép về những câu chuyện đối thoại, và những hành động giữa các Thiền Sư mà thông thường được gọi là Công Án.

Bộ sách Bích Nham Lục được dịch ra  ở đây là một thu tập của một trăm công án sưu tập bởi Tuyết Đậu Trùng Hiển (980-1052).Ngoài phần chính là những công án ra, Tuyết Đậu c̣n làm những bài ca tụng và phụ thêm những lời ghi chú để hướng dẫn các hành giả. Theo sách Ngũ Đăng Hội Nguyên , Tuyết Đậu Trùng Hiển Thiền Sư vốn họ Lư, là người phủ Toại Ninh, Minh Châu. Thoạt tiên xuất gia với Nhân Tiễn Thượng Nhận ở chùa Phổ An. Sau  khi thọ giới cụ túc Sư miệt mài nghiên cứu và suy niệm những giáo lư sâu xa trong Kinh điển. Chẳng baolâu nổi tiếng khắp nơi, ai cũng nghĩ Sư đúng là bậc pháp khí ( có nghĩa là người đủ khả năng để truyền Đạo Pháp). Sau đó, Sư lên đường nam du. Đầu tiên đến gặp Trí Môn, Sưhỏi, “ Không khởi lên bất cứ một niệm nào th́ làm sao có lỗi lầm?” Trí Môn bảo Sư bước đến gần, Sư  vừa bước đến, Trí Môn dùng phất trần đánh ngay vào miệng, Sư vừa định mở miệng, Trí Môn lại đánh nữa, Sư hốt nhiên giác ngộ. Rồi lên trú tŕ ở Thuư Phong, sau đó lại dời về núi Tuyết Đậu. Một hôm sư đi chơi núi, ngắm cảnh khắp chung quanh rồi quay lại hỏi thị giả,” Biết khi nào mới lại trở lại nơi này nữa đây?” Thị giả buồn lắm, bèn xin kệ. Sư nói, “ B́nh sinh ta vốn đă sợ là ḿnh nói quá nhiều rồi.”Hôm sau, Sư đem tất cả tư cụ của ḿnh ra phân phát  cho các đồ chúng rồi nói rằng, “ Ngày mồng bảy tháng bảy sẽ gặp lại.” Đến ngày đó, sư tắm rửa sạch sẽ, đắp y đầy đủ rồi quay về hướng bắc mà mất. Đồ chúng xây tháo đựng di thể của Sư ở phía tây của tự viện. sư được tặng biệt hiệu là Minh Giác Thiền Sư.

Sáu mươi năm sau  khi Tuyết Đậu mất đi, Viên Ngộ Khắc Cần (1063-1135) lại soạn thêm những lời giải thích về các công án căn bản cùng những bài tụng của Tuyết Đậu. Cũng theo sách Ngũ Đăng Hội Nguyên , Viên Ngộ Khắc Cần Thiền Sư ( c̣n có hiệu là Phật Quả) họ lạc, gốc người Bành Châu, vốn con nhà Nho. Thuở nhỏ đă thông minh dị thường, mỗi ngày có thể học thuộc ḷng đến hàng ngàn lời. Một hôm đến chơi chùa Diệu Tích, trông thấy sách Phật, hốt nhiên cảm thấy như t́m lại được vật cũ, tự nhủ, “ Kiếp trước ta là sa môn”. Rồi bỏ nhà cạo đầu xuất gia, học hỏi với nhiều vị thầy khác nhau. Một hôm bệnh nặng gần chết, tự nghĩ, “ Con đường chánh lộ của niết bàn của chư Phật không ở trong ngôn ngữ, ḿnh cứ lo t́m cầu bên ngoài th́ chết cũng vô ích mà thôi.” Bèn đến theo Chân Giác Thắng Thiền Sư. Chân giác chích máu trên tay đưa cho Sư xem, nói, “Đây chính là một giọt Tào Khê.” Sư lúng túng. Măi lâu sau mới nói, “Té ra là như thế”.Sau đó lại đến gặp Ngũ Tổ ( Pháp Diễn), vận dụng đủ mọi tâm cơ, vẫn không được Ngũ Tổ chấp thuận. Sư phát giận bỏ đi. Ngũ Tổ nói, “Để khi nào ông bị sốt một trận kịch liệt rồi ông mới nghĩ đến tôi.” Sư đến Kim Sơn bị đau thương hàn kịch liệt, suốt ngày nỗ lực mà cũng chẳng làm được ǵ, mới nghĩ đến lời của Ngũ Tổ, bèn phát thệ rằng khi lành bệnh thế nào cũng trở về với Ngũ Tổ. Ngũ Tổ trong thấy vui mừng lắm, bèn cho vào tham kiến và cho làm thị giả. Ngũ Tổ thường nói khắp với các bậc kỳ cựu trong Thiền rằng “ Thị giả của tôi tham Thiền chứng đắc rồi.” Cho nên đến đâu ư cũng được tôn làm thượng thủ. Năm Thiệu Hưng thứ tám (1135) Sư hơi bệnh, ngồi kiết già cầm bút viết kệ để lại cho đồ chúng, viết xong ném bút mà hóa.Lúc thiêu, lưỡi và răng vẫn c̣n nguyên, nhục thân th́ biến thành xá lợi ngũ sắc. Sư có thụy là Chân Giác Thiền Sư.

Những công án, những bài tụng của Tuyết Đậu cùng với những lời mở đầu, ghi chú và b́nh giải của Viên Ngộ được lưu truyền lại cho chúng ta dưới cái tên Bích Nham Lục (hay  Bích Nham Tập ).Bộ sách này có thể nói là bộ sách căn bản và thiết yếu nhất của văn học Thiền.

Tóm lại, nội dung của bộ Bích Nham Lục gồm một trăm tắc công án, mỗi tắc lại gồm những thành phần như sau:

THÙY: Tức những lời dẫn vào công án của Viên Ngộ. Những lời dẫn này tuy giản dị song rất quan trọng v́ chúng nêu lên những mấu chốt ch́nh để đi vào một công án đặc thù nào đó.

CỬ (Công Án): Tức là phần chính yếu gồm những lời đàm thoại giữa các Thiền Sư hay những lời giảng của một Thiền Sư nào đó được rút tỉa từ truyền thống Thiền hay từ những nguồn văn học Phật giáo khác. Phần công án này do Tuyết Đậu sưu tập.

B̀NH ( B́nh Xướng): tức những lời bàn rộng thêm của Viên Ngộ về bài tụng của Tuyết Đậu. Trong phần B́nh Xướng này Viên Ngộ đôi khi dẫn điển tích để giải thích những thành ngữ đặc biệt nào đó hoặc dẫn giải Kinh văn để cung ứng cho người học bối cảnh lịch sử hay giáo lư của một câu chuyện đặc biệt nào đó.

TỤNG: Tức lời b́nh xướng gọn bằng văn vần của chính Tuyết Đậu. Giữa những lời tụng cũng có xen kẽ những lời ghi chú của Viên Ngộ.

CHÚ: Tức phần ghi chú của Viên Ngộ về những điểm đặc thù nào đó trong công án. Trong nguyên bản Hoa Ngữ, những lời ghi chú này được in bằng chữ nhỏ xen kẽ giữa nhnữg lời của công án.

Bản dịch Việt Ngữ mà bạn đọc đang cầm trên tay đây là bản dịch trọn vẹn tất cả một trăm tắc công án chỉ ngoại trừ những lời ghi chú nhỏ xen kẽ gữa các công án và những lời ghi chú xem kẽ giữa những lời tụng. Dịch giả nghĩ rằng những lời B́nh Xướng của Viên Ngộ tức những lời bàn rộng cũng đủ là những hướng dẫn ích lợi giúp cho người học suy niệm về ư nghĩa của các công án. Nguyên bản của bộ Bích Nham Lục đă được xuất bản rất nhiều lần ở Trung Hoa cũng như Nhựt Bản. trong khi phiên dịch tôi dùng làm tại liệu chính bộ Tiêu Chú Bích Nham Lục của Cổ Phương Thiền Sư. Từng có cơ hội duyệt qua nhiều ấn bản khác nhau của bộ sách này, tôi nhận thấy ấn bản của Cổ Phương Thiền Sư với những ghi chú đầy đủ về các khía cạnh ngôn ngữ cũng như lịch sử có thể nói là một trong những ấn bản ích lợi nhứt. Ngoài ra tôi cũng so sánh với bản Bích Nham Lục Hiệu Đính ấn hành bởi học giả Nhựt Bản Ito Yuten ( Y Đằng Du Điển). Khi có dị biệt giữa hai văn bản tôi đều nêu ra trong phần chú thích và dựa theo bản nào mà tôi nghĩ là đúng hơn.

Trong khi phiên dịch, ngoại trừ tham khảo những bản chú giải bằng Nhựt ngữ của các học giả Nhựt Bản tôi cũng có được cơ hội đọc các bản dịch ra ngôn ngữ Tây Phương. Theo như tôi biết th́ từ trước đến nay có ba bản dịch, hai bản ra Anh ngữ và một bản ra Đức ngữ: [1] The Blue Cliff Record: Heikigan Roku. London, 1961, dịch bởi R.D.M.Shaw (2) The Blue Cliff Record dịch bởi Thomas và J.C.Cleary gồm ba cuốn do nhà Shambala xuất bản vào năm 1977.(3) Bi lần Yu,Meister Yuân-Wu’s Niederschrift von der Smaragdener Felswand dịch bởi Wihelm Gũndert gồm ba cuốn xuất bản năm 1961,1967 và 1971 bởi nhà xuất bản Carl Hanser. Ba bản dịch ra Đức Ngữ này chỉ mới tới tắc thứ sáu mươi tám.

Đọc những bản dịch trên tôi nhận thấy bản dịch của Shaw đầy những lỗi lầm và hoàn toàn vô ích. Nhờ Ni –sư Prabhasa Dharma Midwer ( Thích Minh Pháp) giúp, qua bản dịch Đức ngữ của Gundert tôi đă hiểu được những chú giải rất cặn kẽ và bác học. Tuy nhiên, theo ư tôi lối “ dịch giải thích” của Gundert đôi khi đâm ra quá rườm rà và xa vời ư của nguyên tắc.Trong một số trường hợp đặc thù nào đó, thú thực tôi không hiểu tại sao Gundert lại dịch như vậy. Tuy nhiên, tôi nghĩ th́ đây là bản dịch khá nhứt trong ba bản dịch kể trên, đáng tiếc là bản dịch chỉ hơn được một nửa. Hơn nửa, bản dịch lại bằng Đức ngữ không phải là một ngôn ngữ quen thuộc lắm đối với độc giả Việt Nam. Về bản dịch của Thomas và J.C.Cleary, nếu như chúng ta chỉ đọc bản Ang ngữ không thôi th́ phải nói đây là bản dịch rất thông suốt, lời văn rất giản dị trong sáng. Tuy nhiên, lúc đó với nguyên tác Hán văn, chúng ta không khỏi nhận thấy có những sai lầm đáng tiếc. Những sai lầm mà hai dịch giả này phạm phải thường là v́ họ không được quen thuộc lắm với những thuật ngữ của Thiền hoặc với những thuật ngữ mà Thiền sư dùng song lại được rút ra trong văn học Trung hoa mà người ta chỉ có thể hiểu được nếu biết nguồn của chúng. Tôi chỉ xin nêu ra đây một vài ví dụ: trong tắc mười hai ở phần B́nh Xướng của Viên Ngộ có nêu ra cuộc đàm thoại giữa Vân Môn và Động Sơn. Vân Môn nói, “ Phạn đại tử, Giang Tây Hồ Nam Tiện nhậm ma khứ”. Thomas và J.C.cleary dịch là “ You rice bag! From Kiangsi to Human, and still you go on this way.”( Vol.I.các trang 84,123) Hiển nhiên hai dịch giả này xem chữ khứ trong câu văn trên là một động từ. Song bất cứ ai quen thuộc với văn học Thiền cũng đều biết rằng chữ khứ trong thành ngữ tiện nhậm ma khứ đă tuyệt nhiên không phải là một động từ, và thành ngữ ấy chỉ có nghĩa là “ chỉ như thế đấy”, hoặc “ chỉ như thế mà thôi”. Trong lời b́nh xướng của tắc thứ mười bốn Thomas và J.C.Cleary dịch thành ngữ “quang tiền tuyệt hậu” là “prior to light and after annihilation.” (Vol.I.trang 96; Vol, II,trang 421). Dịch như vậy là hoàn toàn vô nghĩa lư. Thành ngữ này chỉ giản dị có nghĩa là “ Không từng có trước kia mà cũng sẽ không có sau này tựa như thành ngữ “ không tiền khoáng hậu” trong ngôn ngữ thường nhựt của chúng  ta mà thôi. Lời thùy của tắc thứ hai mươi hai mở đầu bằng câu “đại phương vô ngoại”, Thomas và J.C.Cleary dịch là “ there nothing outside the great vastness”, ( Vol.I.trang144), trong khi thành ngữ này chỉ có nghĩa là “ rộng lớn đến mức không c̣n phương hướng.” Đây chỉ là một vài trong vô số những lỗi lầm sơ đẳng trong bản dịch này. Tôi nêu những lỗi lầm này không với dụng ư phủ nhận công lao và sự đóng góp của hai dịch giả này, mà chỉ muốn lưu ư các người học rằng bản dịch trên tuyệt niên không phải là hoàn toàn đáng tin cậy.

Trong ba năm phiên dịch bộ sách này chủ trương  của tôi là chú trọng sự chính xác hơn là sự bóng bẩy, bởi v́ đây là một tác phẩm về tư tưởng  chứ không phải là một tác phẩm thuần  văn chương. Tuy nhiên trong lúc dịch những bài tụng, tôi cũng vẫn cố gắng dịch ra văn vần hoặc ít nhứt cũng cố giữ đúng như số với chữ với nguyên bản hơn là dịch ra văn xuôi để cho người đọc vẫn thấy thuận tai hơn. Bản dịch này, tiếp nối theo bản dịch Pháp Bảo Đàn Kinh của tôi, được xem như thể một bước tiến thêm nữa trong nguyện vọng muốn thực hiện cái công cuộc lâu dài: thiết lập những tài liệu hữu ích cho những người học Thiền. Nhận thấy bộ Bích Nham Lục với tầm quan trọng lớn lao như thế mà chưa từng bao giờ được phiên dịch ra tiếng Việt,cho nên tôi phát nguyện dịch bộ sách này ngay sau Pháp Bảo Đàn Kinh. Trong tương lai nếu hoàn cảnh thuận tiện, tôi sẽ lần lượt phiên dịch các tài liệu quan trọng trong Văn học Thiền của Trung Hoa cũng như Việt Nam.

Đức Phật có thể nói là vị giáo chủ bỏ ra nhiều thời gian nhứt để thuyết giảng giáo lư của ḿnh. Những lời thuyết giảng trong suốt thời gian ấy (49 năm) luôn luôn nhằm thích hợp với căn cơ của từng người nghe. Chính v́ thế mà đức Phật được ví như là một vị thầy thuốc giỏi biết tùy bệnh cho thuốc. Sau  khi đức Phật nhập niết bàn, giáo lư của Ngài lan truyền đến nhiều nơi khác nhau, và được giải thích, ít ra là dưới những biểu tượng và h́nh thức khác nhau, để tùy nghi với những khung cảnh văn hoá khác nhau. Từ đó mà nảy sinh ra nhiều tông phái khác nhau. Tuy nhiên Thiền tông vẫn là một tông phái thịnh hành nhứt ở Trung Hoa, Nhựt Bản cũng như Việt Nam. Kể từ khi Phật giáo mới truyền vào Việt Nam cũng đă truyền vào dưới h́nh thức của Thiền tông. Sở dĩ Thiền tông được thạnh hành và ưa chuộng như thế cũng v́ giáo lư Thiền nhấn mạnh sự trực tiếp, giản dị (song không kém thâm sâu), nhấn mạnh việc đạt được giác ngộ (bodhi) ngay trong những hoàn cảnh đặc thù và thực tiễn của từng cá nhân.( Trên phương diện thực tiễn, sở dĩ Thiền cũng thích hợp và gần gũi với người Việt Nam hơn c̣n là về vấn đề ngôn ngữ nữa. Cũng tựa như Phật giáo có ảnh hưởng không những đến đời sống tâm linh mà c̣n cả đến ngôn ngữ của người Trung Hoa, th́ Phật giáo Thiền tông với gốc rễ lâu dài ở Việt Nam cũng thể hiện được gẫy gọn hơn trong ngôn ngữ Việt Nam, ít ra là hơn các tông phái Đại Thừa khác của Ấn Độ đ̣i hỏi người tu học phải ít ra quen thuộc với nhnữg ngôn ngữ Ấn Độ). Về mặt tâm linh th́ đối với Thiền, bất cứ hoàn cảnh hay cơ duyên nào cũng có thể trở thành phương tiện thiện xảo (upaya-kausalya) để khai mở chúng vào giác ngộ. Điều này đưa Thiền gần gũi phần nào với Tantra của Tây Tạng. Chính v́ thế mà Thiền, tuy rằng vẫn trung thực với những giáo lư căn bản của Phật giáo Đại Thừa, thường xử dụng những ngôn ngữ, hành động và phương thức vượt ngoài giới hạn công ước. Nói như thế không có nghĩa rằng Thiền là hoàn toàn phi lư (irrational) hoặc là một thứ huyền hoặc thiên nhiên (nature mysticism) hay một thứ triết lư cá nhân (personal philosophy). Nghiên cứu kỹ văn học Thiền, hoặc một người học sau khi đọc kỹ bộ Bích Nham Lục này, hẳn sẽ nhận thấy rằng Thiền cũng có những phương pháp, những thuật ngữ đặc biệt của riêng nó, và những người muốn học Thiền dĩ nhiên ít nhất cũng phải quen thuộc với một số nguyên tắc và ngôn ngữ đặc thù của Thiền. Bộ sách Bích Nham Lục này nhắm cung ứng những điều kiện dự tiên này.

Do đó tôi nhận thấy, một trong những điều quan trọng trong việc xây dựng lại nền móng cho việc tu học Phật ở hải ngoại là phiên dịch thêm những tài liệu mới về Thiền( ngoài việc tái bản những tài liệu cũ) giúp cho người học có tài liệu để dựa vào trong việc học hỏi. Tôi muốn lưu ư những người học rằng những công án trong văn học Thiền chỉ ghi lại cái cực điểm trong cuộc chiêm nghiệm tâm linh lâu dài của một Thiền Sư hay một Thiền Sinh nào đó. V́ thế mà những lời dạy trong các công án mới thoạt đọc đều có vẻ hoàn toàn vô nghĩa lư, và hiển nhiên phải như thế, đối với những người “ ngoại cuộc”. Song chúng lại đầy ư nghĩa với những người đă chiêm nghiệm lâu dài về một đề tài, nói đúng hơn là về một phương thức đặc biệt nào đó để thể hiện Chân Lư, hoặc nói theo Thiền, để thể hiện Phật Tánh của ḿnh. Do đó, bộ sách Bích Nham Lục này không hẳn chỉ là  một bộ sách thuần triết lư, đúng hơn đây là một bộ sách khai mở cho chúng ta những thao thức, những suy niệm, những thành tựu, nói tóm lại, những kinh nghiệm sống động nhứt, gần gũi nhứt của các Thiền Sư trong tiến tŕnh thực nghiệm tâm linh, thể hiện giác ngộ.Bích Nham Lục lại cũng không phải là một bộ sách để cho chúng ta ngấu nghiến một mạch từ trang đầu đến trang cuối. Một trăm tắc công án này, đúng hơn, là một trăm đề tài để Thiền sinh chiêm nghiệm. Đàng rằng, cơ duyên và hoàn cảnh th́ thiên sai vạn biệt đến vô lượng, song Tuyết Đậu Thiền Sư đặc biệt sưu tập một trăm tắc công án này như thể những cơ duyên tiêu biểu nhứt.

Điều cuối cùng tôi muốn nói là nếu như bộ sách này đóng góp được một phần nhỏ nào vào việc tu học cho những người yêu chuộng Thiền th́ nỗ lực của người dịch trong ba năm qua kể như đă được tưởng thưởng xứng đáng. Ngoài ra, nếu có sự nhầm lẫn nào trong việc chuyển dịch, kính mong quư vị cao minh vui ḷng chỉ giáo. Tôi xin bái tạ.

Los Angeles, Đầu Mùa An Cư năm Mậu Th́n (30-5-88)
THÍCH MĂN GIÁC

[1] Dịch giả đă mất vào năm 1971

12-04-2000

Phần 1

TẮC THỨ NHẤT

CÁI TRỐNG KHÔNG CỦA ĐẠT MA

THÙY: Thấy khói bên kia núi biết là có lửa, thấy sừng bên kia tường biết là có trâu. Chỉ một hiểu ba, thoáng nh́n đă rơ, đó cũng như chuyện cơm nước thường ngày của tăng sĩ. C̣n như cắt đứt các ḍng nhánh, hiện lên ở phương đông, ch́m đi ở phương tây, tung hoàng nghịch thuận, tự tại cho hay lấy, vào giây phút đó, thử nói xem là hành tung của kẻ nào? Thử nh́n vào những lời dây dưa của Tuyết Đậu.

CỬ: Lương Vũ Đế hỏi Đạt Ma Đại Sư, “ Thế nào là sự thật cứu cánh siêu phàm?” Đạt Ma nói, “Trống không chẳng có ǵ là siêu phàm”. Vũ Đế hỏi, “Thế đối diện Trẫm là ai vậy?” Đạt Ma nói “Không biết”. Vũ Đế không hiểu, Đạt Ma bèn sang sông qua nước Ngụy. Sau đó Vũ Đế thuật lại câu chuyện trên cho Chí Công. Chí Công hỏi , “Thế bệ hạ đă biết người ấy là ai chưa?” Vũ Đế nói “ Không biết”. Chí Công nói, “Đó chính là Bồ Tát Quan Âm đến để truyền tâm ấn của Phật.” Vũ Đế lấy làm ân hận, bèn sai sứ đuổi theo để mời Đạt Ma trở lại. Chí Công nói, “Đừng có nói là bệ hạ sai sứ đuổi theo, dù cho là cả nước có đuổi theo đi nữa người ấy cũng không trở lại đâu.”

B̀NH: Đạt Ma từ xa nh́n thấy đất này ( Trung Hoa) có căn khí Đại Thừa, cho nên mới lênh đênh vượt biển mà tới, quyết ư trao truyền tâm ấn, khai ngộ nẻo mê, không lập văn tự, chỉ thẳng vào tâm, để người ta thấy tự tính của ḿnh mà chứng thành Phật đạo[1].Nếu ai có thể thấy được như thế đương nhiên cũng được giải thoát, không c̣n bị tất cả các hệ lụy của ngôn ngữ ràng buộc, lập tức siêu việt lên tất cả chứng thành ngay Phật tính [2].Sau đó mới có thể nói chuyện với Vũ Đế cũng như thấy rơ cái chỗ an tâm của Nhị Tổ[3].Không c̣n những  so đo phân biệt của cảm quan, cắt đứt tất cả những thứ này, b́nh thản tự tại, cần ǵ c̣n phải phân biệt thị phi, tính toán được mất? Tuy là như vậy, song mấy ai có thể như thế?

Vũ Đế thường mặc áo cà sa, đích thân giảng Kinh Phóng Quang Bát Nhă[4], giảng sống động đến mức khiến hoa trời rơi tơi tả xuống đất biến thành ngọc lưu ly. Vũ Đế c̣n học Đạo thờ Phật, ra lệnh cho thiên hạ xây chùa độ tăng, tu hành theo giáo lư. Thiên hạ gọi ông là Phật Tâm Thiên Tử.

Lúc Đạt Ma mới đến gặp Vũ Đế, Vũ Đế bèn hỏi , “Trẫm xây chùa độ tăng, như thế có công đức chăng?” Đạt Ma nói “ Chẳng có công đức ǵ cả”. Như thế chẳng khác ǵ xối nước bẩn lên đầu người ta. Nếu như ai hiểu được câu nói “ chẳng có công đức ǵ cả” này, kể như người ấy đủ khả năng đối diện Đạt Ma. Thử nói xem xây chùa độ tăng mà lại chẳng có công đức ǵ cả? ư nghĩa lời này là ở đâu?

Vũ Đế thường cùng Lũ Ước Pháp sư, Phó Đại Sĩ, và Chiêu Minh Thái Tử bàn luận về hai sự thật cứu cánh và công ước. Cứ theo như trong giáo lư th́ sự thật cứu cánh là để giải minh phi hữu, sự thật công ước là để giải minh phi-vô. Cứu cánh và công ước không phải là hai, đó chính là sự thật tuyệt đối siêu phàm. Đó là chỗ vi diệu huyền ảo nhất mà hỏi Đạt Ma, “ Thế nào là sự thật cứu cánh siêu phàm?” Đạt Ma nói, “ Trống không chẳng có ǵ là siêu phàm”. Tất cả các tăng sĩ trong thiên hạ không ai nhảy ra khỏi chỗ này nổi cả. Đạt Ma dùng một đao cắt đứt tất cả chấp trước cho Vũ Đế. Nay người ta mới hiểu lầm làm sao, lại dở tṛ tinh quái trợn mắt mà nói, “trống không chẳng có ǵ ăn nhằm đến lời dạy của Đạt Ma cả.

Ngũ Tổ thường nói, “Chỉ cần người ta có thể hiểu thấu cái nguyên lư trống không chẳng có ǵ là siêu phàm này là người ta có thể về nhà ngồi b́nh thản.” Một bên th́ thiên hạ lo tạo ra những phức tạp, song cũng chẳng hại ǵ đến việc Đạt Ma đập vỡ cái thùng đen[5] cho họ. Đạt Ma chính là người kỳ đặc nhất trong vấn đề này. Cho nên mới có lời nói, “ Nếu như có thể tham hiểu một câu, th́ có thể hàng vạn câu một lúc”. Lúc ấy đương nhiên người ta có thể thấu rơ, nắm vững. Cổ nhân nói, “ Tan Xương nát thịt không đủ trả, hiểu được một câu vượt trăm ức.”

Đạt ma đối diện trực tiếp với Vũ Đế, lận đận biết bao. Vũ Đế không giác ngộ, lại c̣n dựa vào kiến chấp, nhân-ngă, hỏi thêm một câu, “Đối diện với Trẫm là ai?” Đạt Ma từ bi cùng tột, lạinói với Vũ Đế “Không biết”. Khiến cho Vũ Đế kinh hoàng đi, không hiểu Đạt Ma muốn nói ǵ . Đến mức này mà c̣n chấp có hay không th́ đều chẳng nhằm.

Đoan ḥa thượng có lời tụng rằng;

Một tên b́nh thường một ưng rơi

Lại thêm tên nữa mất công thôi

Trở về Thiếu Thất ngồi yên đó,

Vũ Đế đừng mong ngỏ lời mời.

Lại nói, “ Ai muốn mời Đạt Ma trở lại cơ?”

Vũ Đế không hiểu, Đạt Ma bỏ nước Lương mà đi, lăo hán này chỉ c̣n biết lúng túng. Đạt Ma bèn qua sông đến nước Ngụy. Sau này có truyền kỳ nói lại rằng Đạt Ma đạp trên một cọng lau mà qua sông. Điều này không được rơ lắm, có thể là những lời tán tụng mà thôi.[6]Lúc ấy Ngụy Minh Đế đang trị v́. Minh Đế vốn thuộc về một chủng tộc phương bắc, gọi là Thác Bạt (Toba) sau này mới tự nhận là người Trung Quốc. Đạt Ma đến đó không đi gặp ai nữa mà lên thẳng núi Thiếu Lâm, ngồi thiền quay mặt vào tường suốt chín năm. Sau đó mới gặp Nhị Tổ. Người ở vùng đó gọi Đạt Ma là “ Bích Quán Bà La Môn”.

Vũ Đế sau đó hỏi Chí Công, Chí Công nói, “ Thế bệ hạ đă biết người ấy là ai chưa?” Vũ Đế nói, “Không biết”. Thử nói xem cái “ không biết” này là một hay khác với cái “không biết” của Đạt Ma. Giống th́ có giống, nhưng mà không phải là một. Thiên hạ hay hiểu lầm mà bảo rằng, “ Trước đó, lúc Đạt Ma nói “ không biết” là đang trả lời về Thiền, sau đó lúc Vũ Đế trả lời Chí Công, câu trả lời ấy chỉ nằm ở b́nh diện tri thức công ước.” May thay điều này chẳng có ǵ nhằm nḥ với ư chỉ của Đạt Ma. Lúc ấy Chí Công hỏi như thế, thử hỏi xem, Vũ Đế phải trả lời như thế nào? Tại sao không một gậy đập chết Chí Công đi cho rồi để khỏi phải lộ vẻ hồ đồ? Vũ Đế lại thành thực mà khẩn khoản đáp là “ không biết”. Chí Công thấy cơ hội, bèn chụp lấy mà nói, “Đó chính là Bồ Tát Quan Âm đến để truyền tâm ấn của Phật.” Vũ Đế bèn ân hận mà sai sứ đuổi theo để mời Đạt Ma trở lại. Ngây ngô thật! Phải chi lúc Chí Công nói, “Đó chính là Bồ Tát Quán âm đến để truyền tâm ấn của Phật,” mà Vũ Đế tống cổ ông ta ra khỏi nước th́ hẳn đă c̣n có ǵ hay ho hơn.

Theo truyền thuyết th́ Chí Công mất vào năm Thiên Giám thừ mười ba (514 A.D), Đạt Ma th́ măi năm Đại Thông nguyên niên (520 A.D.) mới tới Lương. Như thế là cách nhau có đến bảy năm, làm thế nào có thể bảo là hai người có gặp nhau được? Đây hẳn phải là một truyền thuyết sai lầm. Song những ǵ đă ghi lại trong truyền thống, ở đây không bàn căi làm ǵ. Điều quan trọng là phải hiểu cái ư chính của vấn đề mà thôi. Thử nói xem, Đạt Ma là Quan Âm, Chí Công cũng là Quan Âm, vậy th́ ai thật sự là Quan Âm đây? Đă là Quan Âm th́ tại làm sao lại c̣n có hai? Tại sao lại chỉ có hai, mà không hàng đoàn hàng lũ?

Sau đó ở Ngụy Đạt Ma có nghị luận với Quang Thống luật sư và tam tạng sư Bồ Đề Lưu Chi. Đạt Ma gạt bỏ h́nh tướng chỉ thẳng vào tâm, song hai vị kia th́ chấp trước thành kiến cho nên không chấp nhận nổi lập luận của Đạt Ma. Rốt cuộc c̣n sinh khởi ḷng ganh ghét và mấy bận toan đầu độc Đạt Ma. Đến lần thứ sáu, v́ hóa duyên đă trọn vẹn, và cũng đă t́m được người để truyền Pháp, bèn thản nhiên chấp nhận[7], rồi ngồi thẳng thắn mà mất. Đạt Ma được mai tang ở chùa Định Lâm trên núi Hùng Nhĩ. Sau này người nước Ngụy là Tống Vân trên đường đi sứ có gặp Đạt Ma trên ngọn Thông Lĩnh tay cầm một chiếc dép trở về Ấn Độ.

Vũ Đế  thương tiếc, tự soạn văn bia rằng, “Ôi, thấy mà chẳng thấy, gặp mà chẳng gặp, ngàn xưa ngàn sau, oán thay hận thay.” Rồi lại tán thán rằng,” Tâm mà không th́ trong sát na chứng được diệu giác, tâm mà có th́ ngàn muôn kiếp vẫn đọa luân hồi.”

Thử nói xem hiện giờ Đạt Ma ở đâu? Đi qua rồi mà cũng chẳng biết.

TỤNG:

Sự thật trống không

Làm sao phân biện

Trước trẫm là ai?

C̣n nói không biết

Do đó lén qua sông

Há không sinh gai góc

Cả nước đuổi theo cũng chẳng về,

Ngàn sau ngàn xưa nhớ mong suông

Đừng nhớ mong

Gió thổi mặt đất bao giờ ngưng

Sư nh́n hai bên nói:

Nơi này c̣n có Tổ Sư chăng/

Tự đáp, “Có”.

Đến đây rửa chân cho lăo tăng

B̀NH: Tuyết Đậu tụng công án này, giống như y thể khéo múa Thái A Kiếm, uyển chuyển trong không, đương nhiên không phạm phải mũi nhọn. Nếu như không có cái khả năng này, th́ vừa nhặt kiếm lên tay hẳn đă bị mũi nhọn đả thương. Đối với những người đủ mắt để nh́n thấy th́ một niệm, một xuyên, một khen, một chê, chỉ dùng tứ cú mà định đoán cả một tắc công án. Phàm việc tụng cổ, thường là giảng về Thiền một cách ṿng vo, nêu lên ư chính của vấn đề xưa, rồi theo các dữ kiện mà kết thúc công án, chỉ có thế thôi.

Tuyết Đậu giáp mặt trực tiếp với công án, lập tức tụng rằng, “Sự thật trống không, làm sao phân biện?” Dưới câu đầu, Tuyết Đậu thêm một câu này, quả là kỳ đặc hết sức. Thử nói xem, rốt cuộc phải phân biện như thế nào? Dù cho có mắt sắt người đồng đi nữa, cũng chẳng biết đường nào mà rờ rẫm. Đến  chổ này rồi, há có thể lấy tỉnh thức ra mà đắn đo được sao? Do đó mà Vân Môn nói, “ Như đánh đá lửa, giống ánh điện chớp”. Vấn đề này không nằm trong sự suy nghĩ hay ư tưởng. Đến lúc mà ông há miệng, th́ đâu c̣n có công dụng ǵ nữa. Ngay lúc tính toán so đo vừa khởi, th́ con chim cắt đă bay qua Tân La ( Cao Ly ) rồi.

Tuyết Đậu nói, “Các ông tăng trong thiên hạ, các ông phân biện vấn đề này như thế nào? Đối diện với trẫm là ai?” Lại c̣n nói “không biết”. Đây chính là chỗ từ tâm của Tuyết Đậu, nổ lực không ngớt để giúp thiên hạ. Thử nói xem “trống không” và “ không biết” là một hay hai. Nếu như người đủ khả năng hiểu, thế nào cũng phân nó làm hai. Thiên hạ ở mọi nơi thường nói, “Tuyết Đậu cùng lắm chỉ nêu lại vấn đề lên một lần nữa mà thôi.” Đâu có biết rằng, bốn câu tụng đă nói lên hết ư nghĩa của công án rồi.

Sau đó v́ ḷng từ bi, Tuyết Đậu mới tụng sự tích nhân duyên rằng, “ Do đó lén qua sông, há không sinh gai góc?” Đạt Ma đến xứ này vốn để giải thoát thiên hạ khỏi chỗ dính dấp ràng buộc, nhổ đinh bạt chốt, cắt dọn gai góc. Tại sao Tuyết Đậu lại đi nói rằng Đạt Ma làm gai góc sinh? Cũng không phải chỉ vào buổi ấy, mà ngày nay dưới chân mọi người gai góc cũng đă thâm đến mấy trượng. “Cả nước đuổi theo cũng chẳng về, ngàn xưa ngàn sau nhớ mông suông”, đúng là không phải trượng phu. Thử nói xem, Đạt Ma ở đâu? Nếu thấy được Dạt Ma th́ sẽ thấy được chỗ v́ người của Tuyết Đậu. 

Tuyết Đậu lại sợ thiên hạ mải đuổi theo kiến thức thường t́nh, cho nên mở tung khóa chốt, để lộ chỗ thấy của ḿnh mà nói rằng, “Đừng nhớ mong! Gió thổi mặt đất bao giờ ngưng.” Nếu đă không nhớ mong, th́ các chuyện dưới chân ḿnh làm sao mà nảy sinh? Tuyết Đậu nói, hiện giờ ở đây, gió trong thổi mặt đất, trên trời dưới đất, có chỗ nào là cùng cực? Tuyết Đậu đem tất cả các việc từ thiên cổ vạn cổ ném ngay ra trước mặt. Không phải chỉ với một ḿnh Tuyết Đậu, mà ngay hiện giờ có chỗ nào là cùng cực? Ngay cả nơi con người các ông,có chỗ nào là cùng cực?

Tuyết Đậu lại vẫn sợ thiên hạ sẽ chấp trước vào chỗ này, cho nên lại mượn vào phương tiện, lớn tiếng nói, “Nơi này c̣n có Tổ Sư chăng?” Rồi tự trả lời, “Có”. Ở đây Tuyết Đậu chẳng c̣n ngần ngại bộc lộ ḷng dạ của ḿnh cho thiên hạ. Lại tự nói, “Đến đây rửa chân cho lăo tăng”.Quả t́nh là hạ thấp quang huy của người ta một cách quá đáng, song lúc ấy Tuyết Đậu cũng đă cung hiến cả tay chân ḿnh. Thử nói xem, ư của Tuyết Đậu nằm ở chổ nào? Đến chổ này rồi th́ có gọi là lừa cũng được, có gọi là ngựa cũng được, mà có gọi là Tổ Sư cũng được. Song làm sao có thể gọi tên hay mô tả được? Ư kiến thông thường rằng Tuyết Đậu chỉ lợi dụng Tổ Sư, may thay chẳng có ǵ nhằm nḥ với việc này cả. Nhưng mà thử nói xem, rốt cuộc là chuyện ǵ đây? “Chỉ cho lăo hồ biết, không cho lăo hồ hiểu”.
 
 

TẮC THỨ NH̀

CHÍ ĐẠO VÔ NAN CỦA TRIỆU CHÂU 

THÙY: Trời đất hẹp; trăng sao tinh tú đồng thời tối ám. Dù cho là gậy giáng xuống như mưa sa, tiếng hét vang dội như sấm động, các ông vẫn chưa đảm đương được việc hướng thượng của tông môn.Dù cho là chư Phật của ba đời, cũng chỉ có thể tự biết;Tổ Sư của các thế hệ cũng không thể đề cập rốt ráo được vấn đề. Cả một kho giáo lư cũng không giải thích hết, các tăng sĩ thông thái cũng không tự cứu được. Đă đến mức độ này rồi, làm thế nào c̣n xin chỉ đạo nữa được?Nói ra chữ “Phật” chẳng khác ǵ là lội trong nước bùn, nói ra chữ “ Thiền” cả mặt lúng túng. Bậc thượng sĩ có công tu tập lâu dài chẳng cần phải đợi ai nói, c̣n kẻ hậu học căn cơ thô thiển th́ vẫn cần phải điều nghiên và hiểu thấu.[8]

CỬ: Triệu Châu dạy chúng nói, “Đạo lớn không khó miễn đừng so đo. Vừa có ngôn ngữ lập tức có lựa chọn so đo. Điều này hết sức minh bạch. Lăo tăng này chẳng ở nơi minh bạch. Các ông có c̣n tŕ giữ ǵ chăng?”

Lúc ấy có ông tăng hỏi, “ Không ở nơi minh bạch, th́ thầy tŕ giữ cái ǵ?”

Triệu Châu nói “ Tôi cũng chẳng biết nữa.”

Ông tăng nói, “Ḥa thượng đă không biết cớ sao c̣n nói là không ở nơi minh bạch?”

Triệu Châu nói, “Hỏi về vấn đề là đủ rồi. Mau lạy rồi trở lui.”

B̀NH: Triệu Châu thường dẫn lời “Đạo lớn không khó, miễn đừng so đo” này. Đây vốn là từ bài Tín Tâm Minh” của Tam Tổ[9] “Đạo lớn không khó, miễn đừng so đo. Đừng thích hay ghét, tự nhiên minh bạch.” Vừa khởi ḷng thị phi, tức là có lựa chọn so đo, điều này  rất minh bạch. Vừa sinh ḷng hiểu như thế, vấn đề kể như đă vuột mất. Khi bị ràng buộc dính dấp, biết làm được ǵ? Triệu Châu nói, “Đây là lựa chọn so đo, điều này rất minh bạch.” Thời buổi này người tham Thiền học đạo, nếu không vướng vào chỗ lựa chọn so đo, th́ cũng ngồi trong sự minh bạch. Triệu Châu nói, “ Lăo tăng không ở nơi minh bạch. Các ông có c̣n tŕ giữ ǵn nữa chăng?” Các ông đă không ở chỗ minh bạch, thử nói xem, Triệu Châu ở đâu? Tại sao vẫn c̣n dạy cho thiên hạ tŕ giữ?

Ngũ Tổ thường nói, “Đưa tay ra như thế dắt các ông, các ông hiểu như thế nào? Thử nói xem, đâu là chỗ đưa tay ra? Nhận thức ư nghĩa đầu lưỡi câu, đứng chấp vào điểm giữa cán cân.

Ông tăng kia bước ra, quả là kỳ đặc hết sức. Tại sao vậy? Ông ta nắm được chỗ hở của Triệu Châu bèn dồn Triệu Châu bằng câu hỏi. “ Ḥa thượng đă không ở nơi minh bạch th́ c̣n tŕ giữ cái ǵ nữa?” Triệu Châu cũng hay, chẳng bao giờ dùng đến gậy hay hét, chỉ nói, “ Tôi cũng chẳng biết”. Nếu như không phải là lăo tăng , bất cứ ai bị ông tăng kia dồn như thế ắt cũng đến phải lúng túng. May mà lăo tăng Triệu Châu có thể tự tại chuyển thân cho nên mới trả lời ông tăng như trên. Những kẻ học Thiền ngày nay, bị hỏi cũng thường trả lời, “ Tôi cũng chẳng biết, chẳng hiểu.” Có điều tuy chung một đường song không cùng một lối. Ông tăng kia có chỗ đặc biệt lắm; mới biết hỏi tiếp, “ Ḥa thượng đă không biết, cớ sao c̣n nói là không ở nơi minh bạch?” Đối đáp thật hay!

Nếu như là người khác th́ không cách chi mà gỡ gạc cho được. song Triệu Châu lại là một chuyên gia, chỉ nói với ông tăng kia, “ Hỏi về vấn đề là đủ rồi, lạy rồi trở lui đi.” Ông tăng này vẫn chẳng biết phải đối xử thế nào với lăo hán này, chỉ c̣n biết ấm ức ngậm miệng.

Đây đúng là bậc tông sư đại đảm, không bao giờ bàn luận về lẽ huyền diệu hay cơ cảnh với chúng ta, mà chỉ tiếp thiên hạ bằng những vấn đề căn bản nhất. Cho nên nói, “ Khi chúng ḿnh bài báng nhau ta chấp các ông cặp sừng, khi chúng ḿnh phỉ nhổ nhau ta chấp các ông tạt nước.” Đâu có ai ngờ rằng lăo hán này suốt đời hành cước chẳng bao giờ xử dụng đến gậy hay hét, mà chỉ dùng những lời lẽ tầm thường, có điều người trong thiên hạ chẳng ai làm ǵ được ông ta cả. Chỉ bởi v́ b́nh sinh không bao giờ ông ta chịu so đo:cho nên ông ta đắc đại tự tại tha hồ tung hoành ngang dọc. Người thời buổi này không hiểu, chỉ nói rằng Triệu Châu không trả lời câu hỏi hoặc giải thích cho người khác. Họ đâu có ngờ rằng sự việc lướt qua trước mặt họ mà họ không hay biết.

TỤNG: 

Đạo lớn không khó

Đầu mối ngôn ngữ

Một có nhiều loại

Hai không nhị nguyên

Chân trời nhật nguyệt lên xuống

Ngoài song núi thâm nước lạnh

Trong đầu ư cạn sao c̣n vui

Cây khô điệu sáo vẫn chưa dứt

Khó thật! Khó thật!

So đo minh bạch bạn tự nh́n.

B̀NH: Tuyết Đậu biết ư của Triệu Châu cho nên mới tụng rằng, “Đạo thật không khó.” Sau đó lại nói tiếp, “Đầu mối ngôn ngữ”. Chỉ một mà không hiểu ba. Tuyết Đậu nói, “Một có nhiều loại, hai không nhị nguyên,” đây chính là lấy ba mà hiểu lại một. Thử nói xem đâu là đầu mối ngôn ngữ? Tại sao trong một có nhiều loại mà trong hai lại không có nhị nguyên? Nếu như không đủ mắt để nh́n, biết rờ rẫm ở đâu đây? Nếu như hiểu được hai câu này, th́ đúng như la cổ nhân gọi là “ trở thành thuần nhất[10] lại như xưa thấy núi là núi sông là sông, dài là dài, ngắn là ngắn, trời là trời, đất là đất.” Song cũng có lúc gọi trời là đất, có lúc gọi đất là trời, có lúc bảo núi không phải là núi, bảo sông không phải là sông. Rốt cuộc làm thế nào để được b́nh an? Gió tới cây rung, sóng dâng thuyền lên.Xuân sinh hạ trưởng thu liễm đông tàn. Mọi vật tự diễn biến theo thứ tự b́nh thường của chúng. Bốn câu tụng này đột nhiên dứt tuyệt.

Tuyết Đậu có thừa tài, cho nên mới mở túi ra cho chúng ta một kết luận. Có điều chỉ giống như đặt thêm đầu lên đầu mà thôi, nói rằng “Đạo Phật không khó, đầu mối ngôn ngữ. Một có nhiều loại, hai không có nhị nguyên.” Tuy rằng không có nhiều sự vật, song nơi chân trời lúc mặt trời mọc th́ mặt trăng lặn, ngoài song lúc núi thâm th́ nước lạnh. Đến mức này rồi th́ ngôn ngữ cũng đến nơi cùng cực, cái ǵ cũng là đạo và mọi vật đều là thật. Phải chăng đây là lúc mà tâm cảnh đều quên, hợp thành thuần nhất. Đầu lời tụng Tuyết Đậu có hơi đơn độc và lừng lững; khúc cuối lại cũng có phần lậu đậu không ít. Nếu như tham rơ ra thấy suốt được, th́ nó giống như